• GHXHCG trang bị cho chúng ta
  • Những nguyên tắc để suy tư,
  • Những tiêu chuẩn để phán đoán,
  • Những chỉ dẫn để hành động.
Bài giảng lễ tuyên chân phước Gioan Phaolô II
GHXHCG - Đăng ngày 2-5-2011 7:47 AM GMT+7 - Lượt xem: 1050

 

THÁNH LỄ GIÁO HOÀNG
NHÂN DỊP
TUYÊN BỐ CHÂN PHƯỚC  GIOAN PHAOLÔ II - TÔI TỚ CỦA CHÚA 

Bài giẢng cỦa ĐỨc Thánh Cha BÊnÊĐictÔ XVI

 

Quảng trường Thánh Phêrô  
Chủ Nhật, 1 tháng 5 năm 2011

 

Anh Chị Em thân mến,

Sáu năm trước, chúng ta tập trung tại Quảng trường này để cử hành lễ tang của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Nỗi đau buồn của chúng ta trước việc ngài qua đời thật là sâu đậm, nhưng còn lớn hơn nhiều là ý thức của chúng ta về một ân sủng lớn lao đã bao trùm  Rôma và toàn thế giới: một hồng ân về một mặt nào đó là thành quả của toàn bộ cuộc sống của người tiền nhiệm yêu dấu của tôi, và đặc biệt là về chứng tá của ngài trong đau khổ. Thậm chí lúc đó chúng ta đã cảm nhận hương thơm thánh thiện của ngài, và bằng nhiều cách Dân Thiên Chúa đã thể hiện lòng tôn kính của mình đối với ngài. Vì lý do này, với tất cả sự tôn kính theo đúng Giáo luật, tôi muốn việc tuyên chân phước cho ngài được xúc tiến nhanh chóng một cách hợp lý. Và bây giờ, ngày mong ước đã đến; ngày này đến nhanh chóng bởi vì đây là điều làm đẹp lòng Chúa: đức Gioan Phaolô II được tuyên chân phúc!

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến tất cả các anh chị em nhân dịp trọng đại này đã từ khắp nơi trên thế giới đến Rôma với số lượng rất lớn – các hồng y, thượng phụ của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, các anh em giám mục và các linh mục, các đoàn đại biểu chính thức, các đại sứ và các vị trong chính quyền dân sự, các nam nữ tu sĩ và các tín hữu giáo dân, và tôi cũng xin gửi lời chào đó đến tất cả những người tham gia với chúng ta qua đài phát thanh và truyền hình.

Hôm nay là ngày Chủ nhật thứ hai mùa Phục Sinh, ngày được Đức Gioan Phaolô II đặt là Chủ Nhật Kính lòng Thương xót của Thiên Chúa. Ngày đó đã được chọn để cử hành lễ vào ngày hôm nay bởi vì, trong sự quan phòng của Thiên Chúa, vị tiền nhiệm của tôi đã chết vào hôm áp lễ này. Hôm nay cũng là ngày đầu tiên của tháng 5, tháng kính Đức Maria, và theo phụng vụ, là lễ kính Thánh Giuse Thợ. Tất cả những yếu tố này làm phong phú thêm lời cầu nguyện của chúng ta, giúp chúng ta trong cuộc hành hương của mình trong thời gian và không gian; nhưng ở trên trời một cử hành rất khác đang diễn ra giữa các thiên thần và các thánh! Mặc dù vậy, Thiên Chúa chỉ là một, và cũng là một trong Chúa Kitô, Đấng là chiếc cầu nối đất với trời. Tại thời điểm này chúng ta cảm thấy gần gũi nhau hơn bao giờ hết, như thể ta đang được thông phần vào phụng vụ của thiên quốc.

“Phúc thay những người không thấy mà tin" (Ga 20,29). Trong Tin Mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu tuyên bố mối phúc này: mối phúc của đức tin. Đối với chúng ta, thật là điều gây ấn tượng đặc biệt bởi vì chúng ta tụ họp để cử hành lễ chân phước, nhưng còn hơn thế vì ngày hôm nay vị được tuyên chân phước lại là một vị Giáo hoàng, người Kế vị Thánh Phêrô, người được gọi để củng cố các anh em mình trong đức tin. Đức Gioan Phaolô II được tuyên phúc vì đức tin của mình, một đức tin mạnh mẽ, đại độ và tông truyền. Chúng ta nghĩ ngay đến một mối phúc khác: "Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16,17).  Cha trên trời của chúng ta đã mạc khải gì cho Simon? Đó là Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Vì nhờ đức tin này, Simon trở thành Phêrô, tảng đá trên đó Chúa Giêsu có thể xây dựng Giáo Hội của Người. Mối phúc đời đời của Gioan Phaolô II, mà hôm nay Giáo hội hân hoan công bố, là hoàn toàn ở trong những câu nói này của Chúa Giêsu: "Này anh Simôn, anh thật là người có phúc” và " Phúc thay những người không thấy mà tin!" Đó là mối phúc của đức tin, mà đức Gioan Phaolô II cũng đã nhận được như một món quà do Thiên Chúa Cha ban tặng để xây dựng Giáo Hội của Đức Kitô.

Chúng ta lại liên tưởng đến một mối phúc khác, xuất hiện trong Tin Mừng trước tất cả các mối phúc khác. Đây là mối phú́c của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Vừa thụ thai Đức Giêsu, đức Maria đã được nghe lời của Thánh Êlidabét: "Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em" (Lc 1,45). Mối phúc đức tin có kiểu mẫu của mình nơi Đức Maria, và tất cả chúng ta vui mừng vì việc tuyên chân phước cho Đức Gioan Phaolô II diễn ra vào ngày thứ nhất này của tháng kính Đức Maria, dưới cái nhìn hiền mẫu của người bằng đức tin của mình đã nâng đỡ đức tin của các Tông Đồ và liên tục nâng đỡ đức tin của những người kế vị các Tông Đồ, đặc biệt những người được gọi là để kế nhiệm Ngai tòa Phêrô. Đức Maria không xuất hiện trong các trình thuật phục sinh của Chúa Kitô, nhưng ngài hiện diện một cách kín đáo, liên tục: ngài là Người Mẹ được Đức Giêsu giao phó mỗi môn đệ của Người và toàn thể cộng đồng. Đặc biệt chúng tôi có thể thấy Thánh Gioan và Thánh Luca ghi lại sự hiện diện mạnh mẽ, từ mẫu của Đức Maria trong các đoạn văn nằm ở trước những đoạn được đọc trong bài Tin Mừng hôm nay và bài đọc thứ nhất. Trong trình thuật về cái chết của Đức Giêsu, Đức Maria xuất hiện ở dưới chân thánh giá (Ga 19,25), và ở đầu sách Công Vụ Tông Đồ, ngài ở giữa các môn đệ đang tụ họp để cầu nguyện trong Nhà Tiệc ly (Cv 1,14).

Bài đọc thứ hai hôm nay cũng nói với chúng ta về đức tin. Thánh Phêrô, đầy nhiệt tâm thiêng liêng, đã chỉ ra các lý do cho niềm hy vọng và niềm vui của những người mới được rửa tội. Tôi thích suy nghĩ về đoạn này, ở đầu thư thứ nhất của ngài, Phêrô không sử dụng ngôn ngữ huấn dụ; thay vào đó, ngài nêu một thực tế. Ngài viết: "Anh em sẽ được hân hoan vui mừng", và ngài nói thêm: "Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người" (1Pr 1,6.8-9). Tất cả các động từ này đều ở trực thuyết cách, bởi vì một thực tại mới đã xảy ra trong sự phục sinh của Đức Kitô, một thực tại được đức tin mở ra. "Đó chính là công trình của Chúa", như lời Thánh Vịnh (118,23), và là "công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta", đôi mắt của đức tin.

Anh chị em thân mến, hôm nay đôi mắt của chúng ta trông thấy, trong ánh sáng tâm linh chan hòa của Chúa Kitô phục sinh, hình ảnh Đức Gioan Phaolô II yêu quý và đáng kính. Ngày nay tên ngài được thêm vào danh bộ những người được ngài tuyên thánh và tuyên chân phước trong gần 27 năm giáo hoàng của ngài, qua đó nhấn mạnh đến ơn gọi phổ quát hãy vươn đến đỉnh cao của đời sống Kitô hữu, nghĩa là nên thánh, được Hiến chế công đồng Lumen Gentium của Giáo Hội giảng dạy. Tất cả chúng ta, là thành viên của Dân Thiên Chúa giám mục, linh mục, phó tế, giáo dân, nam nữ tu sĩ – đang thực hiện cuộc hành hương của mình về Quê trời, nơi Đức Trinh Nữ Maria đã đi trước chúng ta, liên kết với ta một cách độc đáo và hoàn hảo trong mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm Giáo Hội. Karol Wojtyla đã tham dự Công Đồng Vatican II, ban đầu với tư cách Giám mục phụ tá và sau đó với tư cách Tổng giám mục Kraków. Ngài đã hoàn toàn ý thức rằng quyết định của Công đồng dành chương cuối cùng của Hiến chế về Giáo Hội cho Đức Maria có nghĩa là Mẹ của Đấng Cứu Chuộc được nâng lên như một hình ảnh và một kiểu mẫu về sự thánh thiện cho mọi Kitô hữu và cho toàn thể Giáo Hội. Đây là tầm nhìn thần học mà Đức Gioan Phaolô II khám phá ra khi còn thanh niên và sau đó duy trì và đào sâu trong suốt cuộc đời của mình. Một tầm nhìn được thể hiện qua hình ảnh Kinh thánh về Đức Kitô chịu đóng đinh có Đức Maria, mẹ của mình, ở bên cạnh. Biểu tượng này trong Tin Mừng của Gioan (19,25-27) đã được sử dụng trong biểu tượng giám mục và sau đó là biểu tượng giáo hoàng của Karol Wojtyla: một thánh giá vàng với chữ "M" ở phía dưới, bên phải, và khẩu hiệu "Totus tuus", lấy từ câu nói nổi tiếng của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort, trong đó Karol Wojtyla đã tìm thấy một ánh sáng hướng dẫn cho cuộc sống của mình:"Totus tuus ego sum et omnia mea tua sunt. Accipio te in mea omnia. Praebe mihi cor tuum, Maria - Con thuộc hoàn toàn về mẹ, và tất cả những gì của con là của mẹ. Con dâng mẹ tất cả những gì của con. Ôi Đức Maria, xin cho con trái tim của mẹ"(Luận bàn về Lòng Sùng kính Đích thực đối với Đức Mẹ, 266).

Trong Di chúc của mình, vị tân Chân phúc viết: "Ngày 16 tháng 10 năm 1978 khi Mật tuyển viện Hồng Y Đoàn đã chọn Gioan Phaolô II, thì Giáo chủ Ba Lan, Đức Hồng Y Stefan Wyszyński, nói với tôi: "Nhiệm vụ của vị Giáo Hoàng mới sẽ là dẫn dắt Giáo Hội vào Thiên niên kỷ thứ ba. Và đức Giáo hoàng nói thêm: "Tôi muốn một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Chúa Thánh Thần về ân huệ lớn lao là Công Đồng Vatican II, và cùng với toàn thể Giáo Hội - và đặc biệt là với toàn thể các giám mục - tôi xin cảm tạ hồng ân này. Tôi tin rằng Công đồng này của thế kỷ XX sẽ còn là ân huệ lâu dài cho các thế hệ kế tiếp kín múc các kho tàng mà Công đồng để lại cho chúng ta. Là một Giám mục đã tham gia Công đồng từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng, tôi mong muốn được giao phó di sản vĩ đại này cho tất cả những người đang và sẽ được gọi để thực hiện. Về phần tôi, tôi cảm ơn Vị Mục Tử Vĩnh Cửu, đã cho phép tôi được phục vụ sự nghiệp lớn này trong tất cả các năm tôi làm giáo hoàng. Và “sự nghiệp” này là gì? Đó chính là điều đức Gioan Phaolô II đã trình bày trong Thánh Lễ trọng thể đầu tiên của mình tại quảng trường Thánh Phêrô bằng các từ không thể nào quên được: "Đừng sợ! Hãy mở, hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!” Điều mà vị Giáo Hoàng tân cử đề nghị với mọi người, thì ngài đã tự thực hiện trước tiên: ngài đã mở ra cho Chúa Kitô các hệ thống xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế, với sức mạnh của một người khổng lổ - sức mạnh đến với ngài từ Thiên Chúa - một dòng thác hầu như không thể đảo ngược. Bằng chứng tá ​​đức tin, tình yêu và lòng can đảm tông đồ của mình, cùng với uy tín cá nhân tuyệt vời, người con gương mẫu này của Ba Lan đã giúp các tín hữu trên toàn thế giới không sợ mình được gọi là Kitô hữu, không sợ thuộc về Giáo Hội, không sợ nói về Tin Mừng. Tắt một từ: ngài đã giúp chúng ta không sợ sự thật, bởi vì sự thật là bảo đảm của tự do. Nói một cách ngắn gọn hơn:  ngài đã cho chúng ta sức mạnh để tin vào Đức Kitô, bởi vì Đức Kitô là Redemptor hominis, Đấng Cứu Chuộc con người. Đây là chủ đề của thông điệp đầu tiên của ngài, và cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các thông điệp khác.

Khi Karol Wojtyla ngồi vào ghế của Phêrô, ngài đã mang theo với ngài một sự hiểu biết sâu sắc về sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác và Kitô giáo, dựa trên những tầm nhìn của mỗi bên về con người. Đây là sứ điệp của ngài: con người là con đường của Giáo Hội, và Đức Kitô là con đường của con người. Với sứ điệp này, vốn là di sản lớn lao của Công Đồng Vatican II và của vị "tài công" của Công đồng là Tôi tớ Chúa, Giáo hoàng Phaolô VI, đức Gioan Phaolô II đã lãnh đạo dân của Thiên Chúa qua ngưỡng cửa của Thiên niên kỷ thứ ba, mà nhờ Đức Kitô ngài đã mạnh dạn gọi là "ngưỡng cửa của hy vọng". Qua hành trình chuẩn bị lâu dài cho Đại Năm Thánh, ngài lại một lần nữa dẫn đưa Kitô giáo vào tương lai, tương lai của Thiên Chúa siêu việt trên lịch sử trong khi vẫn trực tiếp tác động trên lịch sử. Ngài đã đúng khi gọi Kitô giáo là động lực của niềm hy vọng đó, niềm hy vọng theo một nghĩa nào đó đã chùn bước trước chủ nghĩa Mác và trước ý thức hệ về tư tưởng tiến bộ. Ngài đã khôi phục khuôn mặt thật của Kitô giáo với tính cách là một tôn giáo của hy vọng, được sống trong lịch sử trong một tinh thần "Mùa Vọng", trong một cuộc sống cá nhân và cộng đồng hướng đến Đức Kitô, sự viên mãn của nhân loại và là sự lấp đầy tất cả các khát vọng của chúng ta về công lý và hòa bình.

Cuối cùng, một cách cá vị hơn, tôi muốn cảm ơn Thiên Chúa về ân huệ đã được làm việc nhiều năm với Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Tôi đã biết ngài trước đó và đã hâm mộ ngài, nhưng với 23 năm, bắt đầu từ năm 1982 sau khi ngài gọi tôi về Rôma nhận nhiệm vụ Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, tôi đã được ở bên cạnh ngài và lại càng kính trọng ngài hơn. Riêng công việc của tôi đã được nâng đỡ nhờ chiều sâu tâm linh và sự hiểu biết phong phú khôn ngoan của ngài. Tấm gương cầu nguyện liên tục của ngài thật ấn tượng và giúp xây dựng bản thân tôi: ngài vẫn kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa ngay cả khi bề bộn giữa biết bao những yêu cầu của sứ vụ. Sau đó, cũng cần phải kể đến chứng tá ​​của ngài trong đau khổ: Thiên Chúa dần dần tước bỏ khỏi ngài mọi thứ, nhưng ngài vẫn luôn là "tảng đá", như Đức Kitô mong muốn. Lòng khiêm nhường sâu xa của ngài, cắm rễ sâu trong sự gắn bó chặt chẽ với Đức Kitô, đã cho phép ngài tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội và trao cho thế giới một sứ điệp thậm chí lại càng hùng hồn hơn khi sức khỏe thể lý của ngài suy kiệt. Bằng cách này, ngài sống trọn vẹn, một cách phi thường, các ơn gọi của mọi Linh mục và Giám mục, đó là hoàn toàn nên một với Chúa Giêsu, Đấng mà ngài hàng ngày đón nhận và trao ban trong Thánh Thể.

Thưa Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu, ngài thật có phúc bởi vì ngài đã tin!  Chúng con cầu xin ngài, từ trời cao, hãy tiếp tục nâng đỡ đức tin của dân Thiên Chúa. Biết bao lần từ Dinh Tông Đồ ngài đã ban phép lành cho chúng con: xin Đức Thánh Cha hãy ban phép lành cho chúng con. Amen.

Đan Quang Tâm dịch



nghe - xem

 Ba mục đích chính của Đức Giáo Hoàng đến thăm Hàn Quốc...

tư liệu








liên kết website