• GHXHCG trang bị cho chúng ta
  • Những nguyên tắc để suy tư,
  • Những tiêu chuẩn để phán đoán,
  • Những chỉ dẫn để hành động.
Từ Karol Wojtila Đến Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
GHXHCG - Đăng ngày 8-7-2013 9:27 PM GMT+7 - Lượt xem: 1808
Đôi dòng tiểu sử

Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (nay là Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II) tên thật là Karol Josef Wojtyla chào đời ngày 18.5.1920 tại Wadowice, Ba Lan, trong một gia đình đạo hạnh. Chịu Phép rửa tội ngày 20.6.1920. Ngài lớn lên với cha mẹ ngài ở Rynek. Sau đó gia đình dọn tới Krak Via Tyniecka.

Cha là ông Karol Wojtyla, một đại uý trong quân đội Ba Lan, qua đời năm 1941. Mẹ là bà Emilia Kaczorowska, qua đời năm 1929 lúc ngài mới 9 tuổi, vừa được rước Lễ lần đầu. Anh là Edmund qua đời năm 1932 lúc ngài được 12 tuổi. Ngài được lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức năm 18 tuổi

Năm 1926, ngài vào tiểu học và rồi lên trung học Marcin Wadowita, trong những năm tại đây ngài đã đoạt điểm rất cao và làm chủ tịch Hội Tông Đồ Đức Mẹ.

Năm 1934, ngài đã bước vào sự nghiệp sân khấu với diễn xuất lần đầu ở Wadowice, và vào năm 1939, ngài làm việc cho "Phòng thâu 38", một nhóm sân khấu điện ảnh khảo nghiệm của Tadeusz Kudlinski trong lúc theo học tại Đại học Jagellonian. Người thanh niên trẻ Karol tận hiến đời cho Mẹ Maria khi ngài muốn trở thành một minh tinh màn ảnh. Sau khi vừa tận hiến, thì một tư tưởng đến trong đầu Karol: "Tôi muốn là một Linh Mục"... nhưng suy nghĩ ngài lại không muốn là một Linh Mục mà muốn trở thành một minh tinh màn ảnh, thế nhưng ý tưởng trở thành Linh Mục cứ hiện lên trong trí và rồi sau này, ngài đã trở thành một Linh Mục thật !

Khi thế chiến thứ hai lan tràn Âu Châu, thanh niên tuấn tú Karol Wojtyla đang theo học tại Đại Chủng Viện ở Kraków vào năm 1942, được bí mật tổ chức dưới hầm Tòa Giám Mục. Ban ngày các chủng sinh bị xung công đi "lao động là vinh quang" trong một hầm đá; tối về học dưới ngọn đèn cháy leo lét, mù mờ.

Một hôm vào tháng 2 năm 1944, sau giờ "đục đá" trở về, Karol bị một chiếc xe nhà binh Đức đụng phải, rồi bỏ chạy. Karol ngã lăn ra, bất tỉnh bên vệ đường. Một phụ nữ, không biết từ đâu chạy đến, đã làm công việc người Samaritan nhân hậu: Karol được bà đỡ dậy và dìu vào nhà thương cấp cứu. Nhờ đó, Karol được cứu sống.

Khi ra khỏi bệnh viện, Karol đã cố gắng đi tìm ân nhân ấy để cám ơn, nhưng không gặp được bà. Các bác sĩ cho biết người đàn bà đó có những nét phụ nữ Do Thái. Phải chăng rồi, bà đã bị hốt đi và đưa vào lò thiêu sinh cùng với trên 6 triệu người Do Thái đồng hương ? Sau này lên ngôi Giáo Hoàng, chính ngài đã kể lại câu chuyện hi hữu và tuyên bố: "Tôi mong được gặp lại người đàn bà đã cứu sống tôi và hôn tay bà để tri ân". Nhân câu chuyện "lịch sử" ấy, hồi đầu, một tờ báo thiên tả của Ý đã xuyên tạc cho rằng, Tân Giáo Hoàng đã có "bồ" !

Năm 1945, quân đội Nga giải phóng Krakow khỏi ách thống trị của Đức Quốc Xã và rồi Ba Lan trở thành một quốc gia Cộng Sản.

Karol Wojtyla lãnh nhận thừa tác vụ Linh Mục năm 1946, và rồi đậu tiến sĩ Thần Học tại Đại Học Angelicum ở Rôma với đề tài luận án tiến sĩ "Những trở ngại của Đức Tin trong những việc làm của Thánh Gioan Thánh Giá".

Sau đó, từ 1948 đến 1951, ngài đã phục vụ như một Linh Mục xứ ở Kraków; đoạn trải qua một năm tu nghiệp Triết tại Đại Học Jagiellonian. Từ 1952 đến 1958, Karol Wojtyla được bổ nhiệm làm giáo sư Luân lý tại Đại Học Công Giáo Lublin và làm tuyên úy sinh viên.

Năm 1958 ngài đã được tấn phong Giám Mục Phụ Tá, rồi Tổng Giám Mục Giáo Phận Cracovie, và năm 1967, được cố Giáo Hoàng Phaolô VI vinh thăng Hồng Y. Ngài đã tham dự Công Đồng Vatican II năm 1963 và đã đóng góp vào nhiều tài liệu, một trong những tài liệu sau này trở thành Tuyên Ngôn Tự Do Tôn Giáo.

Cùng với hàng Giám Mục Ba Lan, nhất là với Hồng Y Wyszynski, ngài phải đương đầu với chế độ Cộng Sản áp đặt trên hơn 85% người Công Giáo Ba Lan, để bênh vực đức tin và quyền tự do của con người. Hai mục tiêu ấy, ngài càng mạnh mẽ tiếp tục sau khi lên bậc Giáo Hoàng.

Ngày 22.10.1978, lần đầu tiên ra mắt với công chúng trước tiền đường Thánh Phêrô, tân Giáo Hoàng đã xác quyết tuyên bố ( Mt 14, 27 ): "Đừng sợ !"

Đức Gioan-Phaolô II, với khẩu hiệu: "Duc in altum" - "Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới", đã thổi vào Giáo Hội một nguồn sinh lực mới theo tinh thần Công Đồng Vaticanô II. Chỉ vài tháng sau khi nhậm chức, ngài đã lên đường "đi tìm anh em" trong các đoàn chiên khắp thế giới.

Đức Gioan-Phaolô II đã thực hiện tất cả trên 100 chuyến tông du đến 129 quốc gia trên thế giới. Ngài được xem là một trong những vị Giáo Hoàng tông du nhiều nhất, phong Thánh nhiều nhất. Đến đâu, ngài cũng "củng cố đức tin của anh em", lôi kéo rất nhiều người, khởi động sự chú ý đặc biệt của quần chúng đến sự hữu hình và vai trò của Giáo Hội.

Ngày 13.5.1981, Đức Gioan-Phaolô II bị một thanh niên người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Ali Agca 23 tuổi ám sát hụt tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Mehmet Ali Agca đã bắn 4 phát súng 9 ly về phía Đức Thánh Cha lúc đó đang đứng chào dân chúng và ngài đã ngã ra phía sau. Viên đạn thứ nhất trúng bụng, viên thứ hai trúng tay trái, viên thứ ba trúng ngực một bà Mỹ 60 tuổi, và viên thứ tư trúng tay người phụ nữ Jamaica 21 tuổi. Lý do tại sao Đức Gioan-Phaolô II bị ám sát vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Mehmet Ali Agca, sinh ngày 9 tháng 1 năm 1958, đã bị kết án tù chung thân về tội mưu sát Đức Thánh Cha.

Trong Đại Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha đã xin tổng thống Ý tha cho người sát hại ngài, và Ali Agca sau 20 năm trong tù đã được Ý trao trả cho Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2001, và tiếp tục ở tù ở quốc gia của mình vì tội sát hại một vị giám đốc nhật báo vào năm 1979. Ngài đã vào tù thăm người đã bắn ngài và đã tha thứ cho anh. Ali Agca có lẽ đã cảm kích cử chỉ của Đức Thánh Cha nên đã quỳ xuống hôn tay ngài cách trân trọng.

Chính anh Ali Agca người đã bắn những cú chí tử vào Ðức Gioan-Phaolô II, đã hết sức ngạc nhiên, tại sao bị thương như vậy, mà Đức Thánh Cha đã không chết. Việc Đức Thánh Cha không chết, là vì có bàn tay Ðức Mẹ Fatima. Chính Đức Thánh Cha đã công nhận như vậy và ngày 12 – 13.5.1982, ngài đã đến Fatima hành hương, để tạ ơn Ðức Mẹ và tuyên bố rõ ràng: "Ðức Mẹ Maria đã cứu sống tôi".

Ðể ghi nhớ muôn đời, một trong các viên đạn được lấy ra lúc giải phẫu cho Đức Thánh Cha, tại Bệnh Viện Bách Khoa Gemelli ở Roma, đã được ghép vào triều thiên của Ðức Mẹ tại Ðền Thánh Fatima trong dịp Đức Thánh Cha đến hành hương tạ ơn 13.5.1982. Trong cuộc hành hương Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha còn để lại một kỷ niệm khác nữa: đặt dưới chân Mẹ chiếc nhẫn Giám Mục quí giá, do Ðức Cố Hồng Y Stefan Wyszynski, Ba Lan và Tổng Giám Mục Varsovie, tặng cho ngài khi được bầu làm Giáo Hoàng ( 16.10.1978 ). Còn chiếc giây lưng trắng bị đẫm máu trong vụ mưu sát tại quảng trường Thánh Phêrô lúc 17 giờ 10 phút ngày 13.5.1981, đã được để lại làm kỷ niệm tại Czestochowa, Ðền Thánh quốc gia Ba Lan, nơi Đức Thánh Cha đã đến hành hương nhiều lần trong những năm sinh sống tại Ba Lan và cả sau khi đã làm Giáo Hoàng.

Đức Gioan Phaolô II cũng đã cho phổ biến chuỗi Mai Khôi thứ 4, tức Chuỗi Sự Sáng thêm vào 3 chuỗi đã có từ lâu, có lẽ cũng xuất phát từ lòng tri ân Đức Mẹ.

Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa đã cho Giáo Hội có một vị Chân Phước Giáo Hoàng đáng kính và đầy lòng yêu thương, nhân từ.

Chân phước Gioan Phaolô II

Ngày 14-1-2011 Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã cho phép công bố sắc lệnh nhìn nhận một phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xảy ra 2 tháng sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời.

Nữ tu Simon Pierre Normand, thuộc Dòng Tiểu Muội Bảo Sanh Công Giáo, được các bác sĩ điều trị chẩn bệnh và xác nhận bị bệnh Parkinson năm 2001. Chị được chữa trị theo y khoa, nhưng chỉ giảm đau mà không lành. Khi nghe tin Đức Gioan Phaolô II người cũng bị bệnh Parkinson qua đời, nữ tu Simon Pierre cùng các chị em trong dòng bắt đầu cầu khấn xin Đức Cố Giáo Hoàng Gioan haolô II chữa trị cho chị. Ngày mùng 2 tháng 6 năm 2005, mệt mỏi vì bị những đau đớn đè nặng, chị Simon Pierre xin Bề trên cho phép rời bỏ công việc, nhưng Bề trên khuyên chị tiếp tục tín thác nơi lời chuyển cầu của Đức Gioan Phaolô II. Chị Simon Pierre lui về phòng và ngủ một đêm yên hàn. Khi tỉnh đậy, chị cảm thấy được khỏi bệnh. Những đau đớn biến mất và các khớp xương không còn bị cứng nữa. Đó là ngày mùng 3 tháng 6 năm 2005, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chị Simon Pierre đi gặp bác sĩ trị liệu, và ông xác nhận chị được lành bệnh.

Hồ sơ khỏi bệnh của nữ tu Marie Simon Pierre Normand đã được điều tra đúng thủ tục, cùng với các giấy chứng nhận giám định y khoa, pháp luật, đã được Hội đồng y khoa của Bộ Phong Thánh cứu xét ngày 21-10-2010. Các chuyên gia đã đồng thừa nhận rằng cuộc khỏi bệnh của nữ tu Marie Simon Pierre không giải thích được về mặt khoa học. Các cố vấn thần học, sau khi xem xét các kết luận y khoa, đã thẩm định việc khỏi bệnh về phương diện thần học ngày 14-12-2010, và đồng thanh nhìn nhận sự chuyển cầu của Đức Gioan Phaolô II là hữu hiệu đưa tới việc khỏi bệnh lạ lùng nói trên.

Đức Gioan Phaolô II đã được Đức Giáo Hoàng Bênênđictô XVI phong là Đấng đáng kính ngày 19 tháng 12 năm 2009 và phong Chân phước ngày 01 tháng 5 năm 2010. Mặc dù chưa chính thức được phong thánh nhưng vì ngài là người sáng lập ra Đại hội Giới trẻ Thế giới, nên cũng được chọn là một trong những vị quan thầy bảo trợ cho ba kỳ Đại hội Giới trẻ Thế giới liên tiếp là Sydney 2008, Madrid 2011 và Rio de Janeiro 2013.

Đối với Dân Chúa tại Việt Nam, Chân phước Gioan Phaolô II là một Vị Mục Tử, một Người Cha, một Người Bạn Lớn, một Ân nhân, người đã dành nhiều quan tâm và ưu ái cho cộng đồng Dân Chúa cũng như nhân dân Việt Nam.

Trong 27 năm được Đức Gioan Phaolô II lãnh đạo (1978–2005), Giáo Hội trên thế giới và tại Việt Nam được hưởng nhờ bao ơn ích từ những giáo huấn, quyết định, sự sắp đặt và tài lãnh đạo, nhất là gương sáng của ngài.

Kinh nhờ lời chuyển cầu của chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi hồng phúc,

Chúng con tạ ơn Ngài đã ban cho Giáo Hội cùng với Đức Thánh cha Gioan Phaolô II

và cho phép sự chăm sóc dịu dàng của Thiên Chúa Cha,

cùng vinh quang của thánh giá Chúa Kitô,

và ánh hào quang của Chúa Thánh Thần chiếu sáng qua Đức Thánh cha Gioan Phaolô II.

Tin tưởng tuyệt đối vào lòng thương xót vô bờ của Chúa,

và qua lời cầu bầu của Mẹ Maria,

Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã cho chúng con một hình ảnh sống động của Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên nhân lành,

và đã cho chúng con thấy sự nên thánh là tiêu chuẩn cần thiết của người Kitô hữu bình thường, và cũng là cách để đạt được sự hiệp thông muôn đời với Chúa.

Xin ban cho chúng con, qua lời cầu thay của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và theo như thánh ý của Chúa,

những ân huệ mà chúng con cầu khẩn,

và hy vọng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II sẽ sớm được liệt vào hàng các thánh của Chúa. Amen.

Cám ơn Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho con món quà lớn nhất!

Chứng từ tri ân viết từ Ý gởi đến Văn Phòng Án Phong Chân Phước và Hiển Thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng của Sự Sống!

Thư thứ nhất đề ngày 18-10-2012

Đứa con gái người bạn của con lâm trọng bệnh vì bị một tật ở dạ dày ngay từ lúc chào đời. Năm 16 tuổi vì tình trạng sức khoẻ quá tồi tệ nên được đưa vào nhà thương Gazeline tại thành phố Genova ở miền Bắc nước Ý. Tại đây, các bác sĩ sau lần mổ đầu tiên đã phải mổ thêm nhiều lần khác nữa vì không thành công trong việc giải quyết vấn đề. Cô thiếu nữ chỉ còn da bọc xương rất yếu vì không ăn uống gì được kể từ sáu tháng qua. Cô gái yếu đến độ vào lần mổ sau cùng các bác sĩ không chắc là cô gái có thể sống sót được không. Cô gái phải nằm nhà thương trong vòng 9 tháng. Cha mẹ cùng mọi người thân yêu của cô gái tất cả đều rơi vào tình trạng tuyệt vọng.

Con là bạn thân của hiền mẫu cô thiếu nữ từ thời thơ ấu nên trong hoàn cảnh đau thương này con cũng hồi hộp chờ đợi lần mổ thứ 9 và cũng là lần mổ cuối cùng. Mọi người lo lắng đón chờ một vị bác sĩ sẽ đến từ Hoa Kỳ để mổ cho cô gái.

Con tha thiết cầu nguyện rất nhiều. Con đặt trái tim thất vọng của con vào đôi bàn tay của Đức Karol (Wojtyla). Con dâng một cành hoa nhỏ và van xin Đức Karol hãy cứu sống cô gái đã quá yếu không còn có thể chịu thêm một cuộc giải phẫu nào khác.

Thời gian trôi qua sắp đến ngày ấn định diễn ra cuộc giải phẫu. Con liền gọi điện thoại cho bạn con để hỏi thăm tin tức. Thật ra con không dám gọi điện thoại sớm vì rất sợ phải nghe một tin không lành. Người trả lời điện thoại cho con là dì của cô thiếu nữ. Bà bất ngờ loan báo một tin vui. Bà nói: ”Một phép lạ đã xảy ra khi vị bác sĩ người Mỹ đến. Ông khám và thấy không cần phải mổ vì chứng bệnh của cô gái đã lành!” Nghe tin vui con liền dâng lời cảm tạ tri ân Đức Karol.

Sức khoẻ cô gái giờ đây trở lại bình thường và thật khả quan. Đối với con thì chính ngài Karol thân yêu đã chữa lành cô gái vì ngài rất yêu mến các trẻ nhỏ. Con cũng thật yêu mến ngài. Con luôn mang ngài trong trái tim con và cảm tạ THIÊN CHÚA mỗi ngày vì đã ban cho chúng con một Vĩ Nhân, một vị Giáo Hoàng tuyệt vời như ngài.

Ký tên: Bonaventura Carmelita

Thư thứ hai đề ngày 19-10-2012

Con muốn viết lên chứng từ của con để có thể cám ơn người đã ban cho con sức mạnh để chiến đấu đến cùng hầu có thể cho ra chào đời một bé trai mang tên Francesco Karol.

Năm 2009 vào tuần lễ thứ 21 của cuộc mang thai con khám phá ra mình mắc một chứng ung thư ác tính. Với chứng ung thư này tính mạng con bị đe dọa nếu tiếp tục mang thai cho đến đủ ngày đủ tháng. Ngoài ra cũng không thể cứu sống đứa bé nếu nó sinh ra trước thời hạn.

Trong tình trạng tuyệt vọng này con liền đến viếng mộ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong đền thờ Thánh Phêrô. Con xin ngài giúp và hướng dẫn phải chọn lựa như thế nào. Con cũng xin Đức Thánh Cha soi sáng cho các bác sĩ biết phải quyết định ra sao.

Vào ngày 2-4, nhân lễ giỗ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, con được báo cho biết là có thể bắt đầu các cuộc trị liệu bằng hóa chất hầu có thể mang thai đến một thời hạn mà các hiểm nguy sẽ giảm bớt để có thể cho ra đời đứa bé. Vào tuần lễ thứ 23 của cuộc mang thai con bắt đầu hai chu kỳ chữa trị bằng hóa chất. Đến tuần lễ thứ 32 thì đứa bé được sinh ra bằng phẫu thuật. Sau đó thì con tiếp tục các cuộc chữa trị thật khẩn trương. Điều con muốn nói ở đây là đứa bé an lành mạnh khoẻ không bị ảnh hưởng gì vì hai lần chữa trị bằng hóa chất của con. Phần con lúc này đây cũng không có dấu hiệu gì của chứng bệnh.

Con tin chắc rằng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cầu bầu cùng THIÊN CHÚA cho con. Con muốn kêu to phép lạ mà Đức Karol Wojtila đã làm cho con. Con xin cám ơn quý ngài đã tạo cơ hội thuận tiện cho phép con có thể trực tiếp bày tỏ lòng tri ân đối với người bạn thân nhất mà con luôn mang trong trái tim con.

Ký tên: Sara Rizza - Roma

Thư thứ ba đề ngày 10-7-2012

Sau 4 năm thành hôn mà vẫn chưa cho ra đời đứa con nào. Một đêm trong tháng 3 năm 2011 con có một giấc mơ như sau. Con thấy mình đứng nơi một quảng trường có đông người. Vào một lúc con trông thấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tiến tới và dừng lại. Người ra hiệu cho con tới gần. Con liền đến gần. Người ôm hôn con thật chặt và bảo là con đã mang thai, có lẽ là một bé gái và nên đặt tên giống như người. Người cũng bảo đừng lo lắng gì vì tất cả sẽ diễn tiến tốt đẹp và ngài hứa sẽ bảo trợ đứa bé. Mấy ngày sau con khám phá là mình đã mang thai. Khi siêu âm thì người ta báo cho con biết đó là một bào thai nữ. Ngày 9-11-2012 bé Carola chào đời. Con xin viết thư này để bày tỏ lòng tri ân đối với Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Ký tên: Moroni Silvia.

... ”Cứ tin tưởng vào Chúa và làm điều thiện, thì sẽ được ở trong đất nước và sống yên hàn. Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng. Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay. Chính nghĩa bạn, Chúa sẽ làm rực rỡ tựa bình minh, công lý bạn, Người sẽ cho huy hoàng như chính ngọ. Hãy lặng thinh trước mặt Chúa và đợi trông Người. Bạn chẳng nên nổi giận với kẻ được thành công hay với người xảo trá .. Chúa giúp con người bước đi vững chãi, ưa chuộng đường lối họ dõi theo. Dù họ có vấp cũng không ngã gục, bởi vì đã có Chúa cầm tay. Từ nhỏ dại tới nay tôi già cả, chưa thấy người công chính bị bỏ rơi, hoặc dòng giống phải ăn mày thiên hạ. Ngày ngày họ thông cảm và cho mượn cho vay, dòng giống mai sau hưởng phúc lành. Hãy làm lành lánh dữ, bạn sẽ được một nơi ở muôn đời. Bởi vì Chúa yêu thích điều chính trực, chẳng bỏ rơi những bậc hiếu trung” (Thánh Vịnh 37(36),3-7/23-28).

(www.karol-wojtyla.org )

***

Ngày 02 tháng 7 năm 2013 vừa qua, các vị trong ủy ban phong thánh đã đồng ký tên vào văn bản để đệ trình lên Đức Giáo Hoàng Phanxicô xin phong thánh cho Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Theo nguồn tin tại Roma thì rất có thể Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ tuyên phong hiển thánh cho Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào ngày 8 tháng 12 là ngày đại lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Đồng thời năm nay lễ trùng vào ngày Chúa Nhật, thích hợp cho việc tổ chức lễ phong thánh.

Truớc tin Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sắp được phong thánh, dân chúng Ba Lan rất phấn khởi. Linh Mục Robert Necek, phát ngôn viên của Đức Hồng Y Stanislaw Dziwisz tuyên bố với đài truyền thình TVN24 của Ba Lan rằng “ Hồ sơ đã đến chặng đường cuối cùng. Còn lại chỉ là quyết định của Đức Thánh Cha Phanxicô".

Cuối cùng thì ngày mong đợi này đã đến: 05-07-2013 vừa qua, Đức giáo hoàng Phanxicô đã phê chuẩn vụ án phong thánh cho hai vị tiền nhiệm đáng kính mà ngài rất yêu quý là Chân phước Gioan XXIII và Chân phước Gioan Phaolô II.

Và hiện nay, mọi người đều mong rằng Lễ phong thánh có thể được cử hành vào cuối năm nay. 

Nguồn: wgpsg



nghe - xem

Ý chỉ cầu nguyện tháng 8 của Đức Thánh Cha Phanxicô

Nhờ thể thao, chúng ta có thể kiến tạo một nền văn hóa gặp gỡ giữa mọi người để có được một thế giới hòa bình.

Tôi thích mơ ước thể thao như một sự thực hành phẩm giá con người, được biến đổi nhờ tình huynh đệ.

Chúng ta có muốn cùng nhau tập luyện với ý nguyện này hay không? Ước gì thể thao thăng tiến cuộc gặp gỡ huynh đệ giữa các dân tộc và đóng góp cho nền hòa bình trên thế giới.  (Vatican tiếng Việt)

 
tư liệu








liên kết website