• GHXHCG trang bị cho chúng ta
  • Những nguyên tắc để suy tư,
  • Những tiêu chuẩn để phán đoán,
  • Những chỉ dẫn để hành động.
Đọc bản dịch “Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng” của Linh mục Aug. Nguyễn Văn Trinh
GHXHCG - Đăng ngày 15-5-2016 9:09 PM GMT+7 - Lượt xem: 818

 LTS: Trên thực tế, chúng ta thấy rằng việc đầu tư xây cất nhà thờ và các cơ sở khác cũng như tổ chức lễ lạt của Giáo Hội tại Việt Nam so với việc đầu tư vào văn hóa, chẳng hạn dịch thuật, truyền thông... thì rất nhỏ bé. Thật là nghẹn ngào và xót xa khi phải so sánh như thế, ước gì các vị có tránh nhiệm quan tâm, lo lắng và nâng đỡ những ai đang dấn thân vào các lãnh vực này.

Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium) của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã được Linh mục Aug. Nguyễn Văn Trinh sớm dịch ra Việt ngữ, được in thành sách, do nhà xuất bản Tôn Giáo ấn hành và nhà sách Đức Bà Hòa Bình thuộc Dòng Thánh Phaolô Thiện Bản phổ biến năm 2014. Sách dày 258 trang, khổ 20cm5 x 13cm 5.

Dịch giả không cho biết dịch từ tiếng nước nào, nhưng chúng tôi đoán là tiếng Pháp, vì thỉnh thoảng có chua tiếng Pháp (đôi khi có tiếng Đức nhưng ít hơn).

Theo thiển ý, dịch một bản văn, nhất là các văn kiện quan trọng của Huấn quyền, cần dịch sát chữ và sát nghĩa (vì chắc chắn các từ trong nguyên văn đều đã được tác giả cân nhắc cẩn thận) nhưng dĩ nhiên cũng với ngữ điệu của tiếng Việt (trường hợp dịch ra tiếng Việt). Đối chiếu các bản dịch chính thức bằng Anh ngữ và Pháp ngữ (x. www.vatican.va), ta thấy chúng rất song song.

Tuy nhiên, sau khi đọc bản dịch của cha Nguyễn Văn Trinh, trong sự đối chiếu với bản tiếng Pháp của Tòa thánh, chúng tôi có vài nhận xét về cách dịch của ngài như sau. Xin Quý độc giả xem đây như việc điểm sách vậy.

1- THIẾU TỪ (vài thí dụ tiêu biểu)

Số 28. Bản tiếng Pháp: “Mais nous devons reconnaître que l’appel à la révision et au renouveau des paroisses n’a pas encore donné de fruits suffisants pour qu’elles soient encore plus proches des gens, qu’elles soient des lieux de communion vivante et de participation, et qu’elles s’orientent complètement vers la mission”. Bản dịch: “Nhưng cũng phải biết rằng lời mời gọi nhìn lại và canh tân các giáo xứ vẫn chưa mang lại đầy đủ hoa trái, để có thể gần gũi hơn với những nhóm sống động và chia sẻ, hoàn toàn nhắm hướng vào truyền giáo”. Thiết tưởng nên dịch: “Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng lời mời gọi các giáo xứ xét mình và canh tân vẫn chưa mang lại đầy đủ hoa trái, để các giáo xứ gần gũi hơn nữa với quần chúng, thành những nơi hiệp thông và tham dự sống động, hoàn toàn hướng về việc truyền giáo”. Bỏ các chữ “nous”, “des gens, qu’elles soient des lieux

Số 169. Bản tiếng Pháp: “l’Église a besoin d’un regard de proximité pour contempler, s’émouvoir et s’arrêter devant l’autre chaque fois que cela est necessaire”. Bản dịch: “Giáo hội cần đến một cái nhìn gần gũi để quan sát, cảm thông và dừng lại mỗi lần nếu cần”. Thiết tưởng nên dịch: “Giáo hội cần một cái nhìn tiếp cận để chiêm ngắm, cảm động và dừng lại trước kẻ khác mỗi khi cần”. Bỏ chữ “devant l’autre”.

Số 170. Bản tiếng Pháp: “Bien que cela semble évident, l’accompagnement spirituel doit conduire toujours plus vers Dieu, en qui nous pouvons atteindre la vraie liberté. Certains se croient libres lorsqu’ils marchent à l’écart du Seigneur, sans s’apercevoir qu’ils restent existentiellement orphelins, sans un abri, sans une demeure où revenir toujours. Ils cessent d’être pèlerins et se transforment en errants, qui tournent toujours autour d’eux-mêmes sans arriver nulle part”. Bản dịch: “Mặc dù điều này xem như đương nhiên, việc đồng hành tinh thần phải luôn hướng đến Thiên Chúa, chính trong người chúng ta mới đạt được sự tự do đích thực. Nhiều người tin rằng mình được tự do khi tách ra khỏi Thiên Chúa, không cảm thấy mình thật mồ côi, không nơi nương tựa, không một chỗ trú mà mỗi ngày có thể trở về. Họ không còn là kẻ lữ hành, khi chỉ biết quay về chính mình không mục đích”. Thiết tưởng nên dịch: “Mặc dù điều ấy xem ra hiển nhiên, việc đồng hành thiêng liêng phải luôn dẫn về TC hơn nữa, vì trong Người chúng ta mới đạt được tự do đích thực. Nhiều người tưởng rằng mình được tự do khi bước đi cách xa TC, không thấy rằng mình vẫn mồ côi trong cuộc sống, không nơi nương tựa, chẳng chỗ trú thân để trở về mỗi ngày. Họ ngưng làm kẻ lữ hành, và tự biến mình thành kẻ lang thang”. Bỏ các chữ “plus”, “existentiellement”, “se transforment en errants

Số 172. Bản tiếng Pháp: “L’expérience personnelle de nous laisser accompagner et soigner, réussissant à exprimer en toute sincérité notre vie devant celui qui nous accompagne…”. Bản dịch: “Kinh nghiệm cá nhân khi chúng ta để kẻ khác đồng hành và chăm sóc mình, chúng ta thành công khi trình bày một cách thành thật trước người đồng hành…”. Thiết tưởng nên dịch: “Kinh nghiệm cá nhân về việc để mình được đồng hành và chăm sóc, trình bày được một cách thành thật cuộc sống mình trước người đồng hành…”. Bỏ chữ “notre vie

Số 174. Bản tiếng Pháp: “Nous avons désormais dépassé cette ancienne opposition entre Parole et Sacrement”. Bản dịch: “Chúng ta đã vượt qua sự đối kháng giữa Lời và Bí tích”. Thiết tưởng nên dịch: “Chúng ta từ nay đã vượt qua sự đối kháng xưa cũ ấy giữa Lời và Bí tích”. Bỏ các chữ “désormais”, “cette”, “ancienne”.

Số 175. Bản tiếng Pháp: “Nous ne cherchons pas à tâtons dans l’obscurité…”. Bản dịch: “Chúng ta không lần mò trong đêm tối”. Thiết tưởng nên dịch: “Chúng ta không lần mò tìm kiếm trong đêm tối”. Bỏ chữ “cherchons”.

Số 199. Bản tiếng Pháp: “C’est seulement à partir de cette proximité réelle et cordiale que nous pouvons les accompagner comme il convient sur leur chemin de libération”. Bản dịch: “Chính từ việc gần gũi thực sự và thân tình mà chúng ta có thể đồng hành với họ trên con đường giải phóng cho họ”. Thiết tưởng nên dịch: “Chính từ sự gần gũi đích thực và thân tình như thế mà chúng ta có thể đồng hành với họ cách thích hợp trên con đường giải phóng cho họ”. Bỏ các chữ “cette”, “comme il convient”.

Số 201. Bản tiếng Pháp: “Même si on peut dire en général que la vocation et la mission propre des fidèles laïcs est la transformation des diverses réalités terrestres…. Bản dịch: “Dù cách chung người ta có thể nói ơn gọi và sứ vụ riêng của người giáo dân là việc chuyển đổi nhiều thực tại khác nhau….”. Thiết tưởng nên dịch: “Dù cách chung, người ta có thể nói ơn gọi và sứ vụ của riêng của giáo dân là biến đổi các thực tại trần thế đa dạng…”. Bỏ chữ terrestres”.

Số 202. Bản tiếng Pháp: “…en renonçant à l’autonomie absolue des marchés et de la spéculation financière, et en attaquant les causes structurelles de la disparité sociale…”. Bản dịch: “…bằng cách từ bỏ sự độc lập tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính và tấn công vào những nguyên nhân cơ cấu gây nên sự bất bình đẳng…”. Thiết tưởng nên dịch: “…bằng cách từ bỏ sự độc lập tuyệt đối của thị trường lẫn đầu cơ tài chính và bằng cách tấn công vào những nguyên nhân cơ cấu của sự bất bình đẳng xã hội”. Bỏ chữ “sociale.

Số 211. Bản tiếng Pháp: “La situation de ceux qui font l’objet de diverses formes de traite des personnes m’a toujours attristé”. Bản dịch: “Tôi thật đau buồn vì hoàn cảnh của nhiều người là nạn nhân của những vụ buôn người”. Thiết tưởng nên dịch: “Tôi đã luôn đau buồn vì hoàn cảnh của những kẻ là đối tượng của nhiều hình thức buôn người”. Bỏ các chữ “diverses”, “formes”, “toujours”,

2- LỘN TỪ (vài thí dụ tiêu biểu)

Lẫn lộn actualité với activité. Số 195: Bản tiếng Pháp: “Ce grand critère.... est d’une grande actualité dans le contexte présent, où tend à se développer un nouveau paganisme individualiste”. Bản dịch: “Tiêu chuẩn lớn lao này… đó là một hoạt động vĩ đại trong bối cảnh hiện tại, trong đó đang có xu hướng phát triển một thứ ngoại giáo mới mang tính cá nhân”. Thiết tưởng nên dịch: “Tiêu chuẩn lớn lao ấy…. mang một tính cách thời sự vĩ đại trong bối cảnh hiện tại, nơi đang có xu hướng phát triển một thứ ngoại giáo mới mang tính vị kỷ

Lẫn lộn appropriation với appréciation. Số 188 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Il demande de créer une nouvelle mentalité qui pense en termes de communauté, de priorité de la vie de tous sur l’appropriation des biens par quelques-uns”. Bản dịch: “Nó đòi hỏi phải tạo nên một não trạng mới với những ý niệm cộng đồng, sự ưu tiên đời sống của mọi người hơn là việc đánh giá con người dựa trên tài sản của họ”. Thiết tưởng nên dịch: “Nó đòi hỏi tạo nên một não trạng mới biết nghĩ đến cộng đồng, đến tính ưu tiên của sự sống mọi người hơn là việc chiếm hữu tài sản bởi một vài kẻ.”

Lẫn lộn communion với communauté. Số 23. Bản tiếng Pháp: “L’intimité de l’Église avec Jésus est une intimité itinérante, et la communion “se présente essentiellement comme communion missionnaire”. Bản dịch: “Sự liên kết mật thiết của Giáo hội với Đức Giê-su là một sự mật thiết truyền giáo, và cộng đoàn “tỏ hiện một cách cơ bản là một cộng đoàn truyền giáo”. Thiết tưởng nên dịch: “Sự mật thiết của Giáo hội với Đức Giê-su là một sự mật thiết đồng hành, và sự hiệp thông “tỏ ra chủ yếu như hiệp thông truyền giáo”.

Số 28. Bản tiếng Pháp: “….pour qu’elles soient encore plus proches des gens, qu’elles soient des lieux de communion vivante et de participation…”. Bản dịch: “…để có thể gần gũi hơn với những nhóm sống động và chia sẻ, hoàn toàn nhắm hướng vào truyền giáo”. Thiết tưởng nên dịch: “…để [các giáo xứ] gần gũi hơn nữa với quần chúng, thành những nơi hiệp thông và tham dự sống động, hoàn toàn hướng về việc truyền giáo”.

Số 31. Bản tiếng Pháp: “L’évêque doit toujours favoriser la communion missionnaire dans son Église diocésaine”. Bản dịch: “Vị Giám mục phải tạo điều kiện cho cộng đoàn truyền giáo trong Giáo hội địa phương”. Thiết tưởng nên dịch: “Vị Giám mục phải luôn cổ vũ sự hiệp thông truyền giáo trong Giáo phận của mình”.

Đầu số 130: Bản tiếng Pháp: “Les charismes au service de la communion évangélisatrice. Bản dịch: “Các đặc sủng để phục vụ cho cộng đoàn rao giảng Tin mừng”. Thiết tưởng nên dịch: “Các đặc sủng phục vụ việc hiệp thông phúc âm hóa”. Còn nhiều chỗ khác nữa.

Lẫn lộn communiquer với communier. Số 121. Bản tiếng Pháp: “…mais plutôt que nous devons trouver le mode de communiquer Jésus qui corresponde à la situation dans laquelle nous nous trouvons……. ce qui t’aide à vivre et te donne une espérance, c’est cela que tu dois communiquer aux autres... Bản dịch: “…nhưng phải tìm cách hiệp thông với Đức Giê-su, Đấng thích hợp với hoàn cảnh chúng ta đang sống…. sẽ giúp anh sống và ban cho anh tia hy vọng, chính điều này mà anh phải hiệp thông với những người khác”. Thiết tưởng nên dịch: “…nhưng đúng hơn phải tìm cách thức tương ứng với hoàn cảnh chúng ta đang sống để truyền bá Đức Giê-su…. điều đang giúp anh sống và ban cho anh một niềm hy vọng, chính điều này anh phải chuyển thông (truyền đạt) cho những người khác”.

Số 264. Bản tiếng Pháp: “Quel bien cela nous fait qu’il vienne toucher notre existence et nous pousse à communiquer sa vie nouvelle ! … La meilleure motivation pour se décider à communiquer l’Évangile est de le contempler avec amour, de s’attarder en ses pages et de le lire avec le cœur”. Bản dịch: “Điều này thật tốt đẹp vì làm cho Người đụng chạm đến hiện sinh của chúng ta và thúc đẩy chúng ta kết hợp vào đời sống mới của Người…. Động lực tốt nhất để quyết định kết hợp với Tin mừng đó là chiêm ngắm Người với trọn tình yêu…” Thiết tưởng nên dịch: “Thật tốt đẹp cho chúng ta việc Người đến chạm vào cuộc sống chúng ta và thúc đẩy chúng ta chuyển thông sự sống mới của Người!... Động lực tốt nhất để quyết định chuyển thông Tin Mừng là chiêm ngưỡng nó với tình yêu, dừng lại nơi các trang của nó và đọc nó với trái tim”.

Lẫn lộn confins với conflits. Lời nguyện kết. Bản tiếng Pháp: “…pour que la joie de l’Évangile parvienne jusqu’aux confins de la terre”. Bản dịch: “…để cho niềm vui của Tin Mừng có thể đi sâu vào các xung khắc của thế giới”. Thiết tưởng nên dịch: “…để cho niềm vui của Tin Mừng đến tận các biên giới của trái đất”. 

Lẫn lộn constater với contacter: Số 276: Bản tiếng Pháp: “Il est vrai que souvent Dieu semble ne pas exister : nous constatons que l’injustice, la méchanceté, l’indifférence et la cruauté ne diminuent pas”. Bản dịch: “Hình như Thiên Chúa không hiện hữu: chúng ta chỉ đụng chạm đến bất công, bạo lực, dửng dưng và sự gian ác không giảm đi chút nào”. Thiết tưởng nên dịch: “Vẫn biết đôi khi TC xem ra không hiện hữu: chúng ta nhận thấy bất công, độc dữ, dửng dưng và tàn ác không giảm”.

Lẫn lộn désirs với décisions: Số 267. Bản tiếng Pháp: “Au-delà du fait que cela nous convienne ou non, nous intéresse ou non, nous soit utile ou non, au-delà des petites limites de nos désirs, de notre compréhension et de nos motivations… ”. Bản dịch: “Vượt trên sự kiện chúng ta có đồng ý hay không, quan tâm hay không, hữu ích cho chúng ta hay không, vượt trên tất cả những ranh giới nhỏ bé các quyết định của chúng ta, những sự hiểu biết của chúng ta và các động cơ của chúng ta…” Thiết tưởng nên dịch: “Vượt lên trên sự kiện điều ấy có thích hợp với chúng ta hay không, khiến chúng ta quan tâm hay không, hữu ích cho chúng ta hay không, vượt lên trên những giới hạn nhỏ bé của các ước muốn nơi chúng ta, của khả năng lĩnh hội nơi chúng ta và của các động cơ nơi chúng ta…”

Lẫn lộn s’incarner với s’intégrer. Đầu số 40. Bản tiếng Pháp: “IV. La mission qui s’incarne dans les limites humaines”. Bản dịch: “4- Sứ vụ hội nhập vào các ranh giới nhân bản”. Thiết tưởng nên dịch: “4- Sứ vụ thể hiện (nhập thể) trong các giới hạn của con người”.

Số 90. Bản tiếng Pháp: “Les formes propres à la religiosité populaire sont incarnées, parce qu’elles sont nées de l’incarnation de la foi chrétienne dans une culture populaire”. Bản dịch: “Những hình thức đặc thù của đạo đức bình dân được phát triển, chỉ vì chúng phát sinh từ việc hội nhập niềm tin Ki-tô giáo vào trong một văn hóa phổ thông”. Thiết tưởng nên dịch: “Những hình thức đặc thù của lòng đạo đức bình dân đều nhập thể (mang lấy hình hài), vì chúng phát sinh từ việc nhập thể của đức tin Ki-tô giáo vào trong một nền văn hóa bình dân”.

Số 115. Bản tiếng Pháp: “Ce Peuple de Dieu s’incarne dans les peuples de la terre, chacun de ses membres a sa propre culture”. Bản dịch: “Dân Thiên Chúa hội nhập vào các dân tộc trên thế giới; mỗi dân tộc đều có văn hóa riêng”. Thiết tưởng nên dịch: “Dân Thiên Chúa ấy nhập thể vào các dân tộc khắp trái đất, mỗi thành viên của dân ấy đều có nền văn hóa riêng của mình”.

Cuối số 115. Bản tiếng Pháp: “La grâce suppose la culture, et le don de Dieu s’incarne dans la culture de la personne qui la reçoit”. Bản dịch: “Ân sủng đặt văn hóa đi trước, và hồng ân Thiên Chúa hội nhập vào văn hóa của người lãnh nhận”. Thiết tưởng nên dịch: “Ân sủng giả thiết (giả định) văn hóa, và ơn Thiên Chúa nhập thể vào văn hóa của người lãnh nhận ơn đó”.

Số 117. Bản tiếng Pháp: “Ce n’est pas faire justice à la logique de l’incarnation que de penser à un christianisme monoculturel et monocorde”. Bản dịch: “Thật bất công khi cho rằng vì phải hội nhập nên Ki-tô giáo chỉ có một văn hóa và một sự hòa hợp.” Thiết tưởng nên dịch: “Không phải là bênh vực cho lô-gích của việc nhập thể khi nghĩ đến một Ki-tô giáo đơn văn hóa và đơn điệu”.

Lẫn lộn s’investir với investir: Số 209. Bản tiếng Pháp: “Mais dans le modèle actuel de “succès” et de “droit privé”, il ne semble pas que cela ait un sens de s’investir afin que ceux qui restent en arrière, les faibles ou les moins pourvus, puissent se faire un chemin dans la vie”. Bản dịch: “Nhưng trong mẫu hiện tại của “thành công” và “luật cá nhân”, hình như không còn ý nghĩa mấy để đầu tư giúp cho những người đứng cuối, những kẻ yếu kém hay ít tài năng có được con đường sống”. Thiết tưởng nên dịch: “Nhưng trong kiểu mẫu “thành công” và “quyền lợi riêng” hiện thời, hình như điều ấy không còn ý nghĩa mấy để chú tâm vào hầu giúp cho những ai đứng cuối, những kẻ yếu kém hay hẩm hiu nhất có thể tự mở ra một con đường trong cuộc đời”.

Lẫn lộn libéralité với liberté. Số 190. Bản tiếng Pháp: “Il faut répéter que “les plus favorisés doivent renoncer à certains de leurs droits, pour mettre avec une plus grande libéralité leurs biens au service des autres”. Bản dịch: “Phải nhắc lại rằng “những người may mắn hơn phải biết từ bỏ một số quyền lợi của họ, với một sự tự do có thể sử dụng tài sản của mình để phục vụ kẻ khác”. Thiết tưởng nên dịch: “Phải nhắc lại rằng những người may mắn nhất phải biết từ bỏ một số quyền của họ, để đem tài sản của mình phục vụ kẻ khác với một sự rộng rãi hơn”.

Lẫn lộn littéral(e) với littéraire. Số 152. Bản tiếng Pháp: “La lecture spirituelle d’un texte doit partir de sa signification littérale”. Bản dịch: “Việc đọc sách thiêng liêng một bản văn phải đi từ ý nghĩa văn chương”. Thiết tưởng nên dịch: “Việc đọc một bản văn cách thiêng liêng phải đi từ nghĩa đen của nó”.

Lẫn lộn révéler với relever. Số 164: Bản tiếng Pháp: “qui par sa mort et sa résurrection nous révèle et nous communique l’infinie miséricorde du Père”. Bản dịch: “Đấng nhờ cái chết và sự Phục sinh của Người nâng đỡ chúng ta và cho chúng ta hiệp thông vào lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa Cha”. Thiết tưởng nên dịch: “Đấng nhờ cái chết và sự sống lại của Người mà mạc khải và thông ban cho chúng ta lòng thương xót vô biên của Chúa Cha”.

Lẫn lộn théologale với théologique. Số 125. Bản tiếng Pháp: “C’est seulement à partir d’une connaturalité affective que donne l’amour que nous pouvons apprécier la vie théologale présente dans la piété des peuples chrétiens…”. Bản dịch: “Xuất phát từ chiều kích tự nhiên do tình yêu mang lại, chúng ta mới có thể xác định đời sống thần học hiện diện trong lòng đạo đức bình dân của dân Kitô giáo”. Thiết tưởng nên dịch: “Chỉ khi đi từ sự đồng cảm do tình yêu mang lại, chúng ta mới có thể đánh giá cao sự sống đối thần hiện diện trong lòng đạo đức của dân Kitô giáo”.

Lẫn lộn trame với drame: Số 278. Bản tiếng Pháp: “Car la résurrection du Seigneur a déjà pénétré la trame cachée de cette histoire, car Jésus n’est pas ressuscité pour rien”. Bản dịch: “Vì sự phục sinh của Chúa đã đi vào bi kịch ẩn kín trong lịch sử này, vì Đức Giê-su không sống lại một cách vô ích”. Thiết tưởng nên dịch: “Vì sự phục sinh của Chúa đã đi vào kết cấu bí ẩn của lịch sử này rồi, vì Đức Giê-su đã không sống lại cách vô ích

3- SAI NGHĨA (nêu vài ví dụ tiêu biểu)

A à voir (số 158). Bản tiếng Pháp: “La simplicité a à voir avec le langage utilize”. Bản dịch: “Sự đơn sơ phải được nhìn thấy trong ngôn từ được sử dụng”. Thiết tưởng nên dịch: “Sự đơn sơ có liên quan tới ngôn ngữ được sử dụng”.

Au lieu de (số 129). Bản tiếng Pháp: “…il est possible qu’au lieu d’être créatifs….. Bản dịch: “…vẫn có thể còn một vị trí để sáng tạo...” Thiết tưởng nên dịch: “…thì có thể thay vì sáng tạo…”

Combler (số 167): combler la vie. Bản dịch: bao trùm cuộc sống. Đúng nghĩa: lấp đầy cuộc sống.

De nouveau (Số 21): Bản tiếng Pháp: de marcher et de semer toujours de nouveau. Bản dịch: bước đi và luôn gieo cách mới mẻ. Thiết tưởng nên dịch: bước đi và luôn gieo vãi lại.  Lối dịch “cách mới mẻ” này còn thấy ở số 122 và 164.

Dernières années (số 166). Bản dịch: những thập niên cuối. Đúng nghĩa: những năm gần đây

Doctrine (số 17). Bản dịch: nền tảng. (Số 35). Bản dịch: tín lý. (Số 36). Bản dịch: Tín điều Đúng nghĩa: giáo thuyết. Tín lý là dogmatique, Tín điều là dogme.

Don (số 269). “Le don de Jésus sur la croix”. Bản dịch: “Hồng ân của Đức Giê-su trên thập giá” Thiết tưởng nên dịch: “Việc Đức Giê-su hiến thân trên thập giá

Enfreindre (số 161). Bản tiếng Pháp: “…pour n’enfreindre aucun précepte”. Bản dịch: “…mà không bỏ qua mệnh lệnh nào”. Thiết tưởng nên dịch: “… để khỏi vi phạm bất cứ giới răn nào”.

Interpeller (số 155). Bản tiếng Pháp: “puisque certaines personnes aiment parfois entendre dans la prédication des commentaires sur la réalité, mais sans pour cela se laisser interpeller personnellement”. Bản dịch: “vì một số người vẫn thích nghe bài giảng bình luận về thực tại, nhưng đừng nói theo cá nhân mình”. Thiết tưởng nên dịch: “vì một số người đôi khi thích nghe bài giảng bình luận về thực tại, nhưng không vì thế mà để bản thân mình bị chất vấn”.

(Số 166). Bản tiếng Pháp: “De nombreux manuels et beaucoup de programmes ne se sont pas encore laissés interpeller par la nécessité d’un renouvellement mystagogique, qui pourrait assumer des formes très diverses en accord avec le discernement de chaque communauté educative”. Bản dịch: “Nhiều thủ bản và cũng nhiều chương trình vẫn chưa nêu lên sự cần thiết một sự canh tân Giáo lý mầu nhiệm, có thể có những hình thức rất khác nhau cho phù hợp với từng cộng đoàn giáo dục”. Thiết tưởng nên dịch: “Nhiều thủ bản và nhiều chương trình vẫn chưa để mình bị chất vấn bởi sự cần thiết phải tái canh tân việc khai tâm vào các mầu nhiệm, vốn có thể mang nhiều hình thức rất khác nhau phù hợp với sự phân định của từng cộng đoàn giáo dục”.

Lieu théologique (số 127). Bản dịch: vị trí thần học. Đúng nghĩa: nguồn xuất xứ thần học.

Misère (số 84): les misères de notre époque. Bản dịch: các yếu đuối của thời đại chúng ta. Thiết tưởng nên dịch: Các nỗi khốn khổ của thời đại chúng ta.

Piété populaire (số 70). Bản dịch: Lòng đạo đức công khai. Đúng nghĩa: Lòng đạo đức bình dân.

Remords (số 159). Bản dịch: ăn năn. Đúng nghĩa: ân hận. Ăn năn là contrition

Sens (số 72): Bản tiếng Pháp:des coutumes associées à un sens du temps”. Bản dịch: “những thói quen dựa vào một ý nghĩa thời đại”. Thiết tưởng nên dịch: “nhiều thói quen gắn liền với một ý thức về thời gian”. Bản tiếng Pháp: se cache un sens profond de l’existence qui implique habituellement aussi un profond sens religieux”. Bản dịch: “có một ý nghĩa sâu xa của hiện sinh cũng thường bao gồm cả ý nghĩa sâu xa về tôn giáo”. Thiết tưởng nên dịch: “ẩn giấu một ý thức sâu xa về cuộc sống, vốn thường bao gồm một ý thức về tôn giáo sâu đậm”.

(số 201): le sens évangélique des pauvres. Bản dịch: ý nghĩa xuất phát từ Tin Mừng đối với người nghèo. Thiết tưởng nên dịch: ý thức (kiểu) Tin Mừng về người nghèo.

4- PHẢN NGHĨA (vài ví dụ tiêu biểu)

Số 3 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Ne fuyons pas la résurrection de Jésus, ne nous donnons jamais pour vaincus, advienne que pourra. Rien ne peut davantage que sa vie qui nous pousse en avant !” Bản dịch: “Đừng trốn chạy trước sự Phục sinh của Đức Giê-su! Đừng bao giờ thất vọng, dù cứ tái đi tái lại. Không có gì mạnh hơn khi cuộc sống đẩy chúng ta đến trước”. Thiết tưởng nên dịch: “Đừng chạy trốn sự Phục sinh của Đức Giê-su, đừng bao giờ cho mình bại trận, dù gì đi nữa. Sự sống của Người đẩy chúng ta tới trước, không có gì hơn!

Số 115. Bản tiếng Pháp: “Ce Peuple de Dieu s’incarne dans les peuples de la terre, chacun de ses membres a sa propre culture”. Bản dịch: “Dân Thiên Chúa hội nhập vào các dân tộc trên thế giới; mỗi dân tộc đều có văn hóa riêng”. Thiết tưởng nên dịch: “Dân Thiên Chúa ấy nhập thể vào các dân tộc khắp trái đất, mỗi thành viên của Dân nầy đều có nền văn hóa riêng của mình”.

Số 121: Bản tiếng Pháp: “mais cela ne signifie pas que nous devons renoncer à la mission d’évangélisation, mais plutôt que nous devons trouver le mode de communiquer Jésus qui corresponde à la situation dans laquelle nous nous trouvons”. Bản dịch: “nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta từ chối sứ vụ truyền giáo, nhưng phải tìm cách hiệp thông với Đức Giê-su, Đấng thích hợp với hoàn cảnh chúng ta đang sống”. Thiết tưởng nên dịch: “nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta phải từ chối sứ vụ phúc âm hóa, nhưng đúng hơn phải tìm cách thức tương ứng với  hoàn cảnh chúng ta đang sống để truyền bá Đức Giê-su

Số 155: Bản tiếng Pháp: “Rappelons qu’on n’a jamais besoin de répondre à des questions que personne ne se pose ; il n’est pas non plus opportun d’offrir des chroniques de l’actualité pour susciter de l’intérêt : pour cela il y a déjà les programmes télévisés”. Bản dịch: “Hãy nhớ rằng người ta không cần đến câu trả lời của chúng ta cho các vấn nạn mà người ta nêu lên, cũng không cần thiết đưa bản tường trình về hoạt động để gợi lên thích thú của họ; về điều này đã có những chương trình thời sự rồi”. Thiết tưởng nên dịch: “Hãy nhớ rằng người ta không bao giờ cần trả lời những câu hỏi mà chẳng ai tự đặt ra cho mình, cũng không nên đưa ra những tin tức thời sự để khêu gợi sự chú ý; về điều này đã có những chương trình truyền hình rồi”.

Số 161: Bản tiếng Pháp: “Il s’agit “d’observer” ce que le Seigneur nous a indiqué, comme réponse à son amour, d’où ressort, avec toutes les vertus, ce commandement nouveau qui est le premier, le plus grand, celui qui nous identifie le mieux comme disciples”. Bản dịch: “Điều này nhắm đến việc “tuân giữ” điều Chúa chỉ dạy, như lời đáp lại tình yêu của Người, từ đó đưa đến điều răn mới, cùng với tất cả các nhân đức, là điều tiên khởi, lớn lao hơn cả, điều giúp chúng ta trở thành môn đệ tốt nhất”. Thiết tưởng nên dịch: “Đây là việc “tuân giữ” điều Chúa đã chỉ dạy chúng ta, như lời đáp trả tình yêu của Người, từ đó, cùng với tất cả các nhân đức, nổi lên điều răn mới là điều răn thứ nhất, lớn lao hơn cả, điều đồng hóa chúng ta như môn đệ nhất”.

Số 164 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Pour cela aussi “le prêtre, comme l’Église, doit prendre de plus en plus conscience du besoin permanent qu’il a d’être évangélisé”. Bản dịch: “Để thực hiện điều này, “vị linh mục, cũng như cả Giáo hội, phải ý thức đến sự cần thiết để lời rao giảng này phải luôn được công bố”. Thiết tưởng nên dịch: “Cũng vì thế, “linh mục, cũng như Giáo hội, phải ý thức thêm mãi nhu cầu thường trực là mình cần được phúc âm hóa”.

Số 168 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Plus que comme experts en diagnostics apocalyptiques ou jugements obscurs qui se complaisent à identifier chaque danger ou déviation, il est bien qu’on puisse nous regarder comme de joyeux messagers de propositions élevées, gardiens du bien et de la beauté qui resplendissent dans une vie fidèle à l’Évangile”. Bản dịch: “Thật đáng mừng nếu người ta không nhìn chúng ta như những nhà chuyên môn về dự báo khải huyền hay những thẩm phán đen tối, cảm nghiệm được từng nguy hiểm hay lạc lối, nhưng như các sứ giả hân hoan đề nghị những giải pháp cao cả, những người bảo quản điều thiện hảo và vẻ đẹp chiếu tỏa trong một cuộc sống trung tín với Tin Mừng”. Thiết tưởng nên dịch: “Thật tốt nếu thiên hạ không nhìn chúng ta như các chuyên gia về những chẩn đoán khủng khiếp (kiểu khải huyền) hay những phán xét đầy u ám, thích thú nhận dạng từng nguy hiểm hay từng lệch lạc, nhưng như những sứ giả hân hoan loan báo những đề nghị cao cả, như những người canh giữ sự thiện và sự mỹ vốn chiếu tỏa trong một cuộc sống trung tín với Tin Mừng”.

Số 171. Bản tiếng Pháp: “l’impatience de répondre pleinement à l’amour de Dieu”. Bản dịch: “sự kiên nhẫn để đáp trả trọn vẹn cho tình yêu TC”. Thiết tưởng nên dịch: “sự nôn nóng đáp trả trọn vẹn tình yêu TC”.         

Số 175: Bản tiếng Pháp: “…comme aussi en promeuvent la lecture orante personnelle et communautaire”. Bản dịch: “…cũng như thúc đẩy việc đọc để cầu nguyện cho từng cá nhân cũng như cho cộng đoàn”. Thiết tưởng nên dịch: “…cũng như thúc đẩy việc đọc kiểu cầu nguyện cá nhân và tập thể”.

Số 179 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Comme l’Église est missionnaire par nature, ainsi surgit inévitablement d’une telle nature la charité effective pour le prochain, la compassion qui comprend, assiste et promeut”. Bản dịch: “Tự bản chất, Giáo hội mang đặc tính truyền giáo, như thế tất yếu phải xuất phát từ sự bác ái đầy hiệu năng, sự hiểu biết, cảm thông và động viên đối với tha nhân”. Thiết tưởng nên dịch: “Vì tự bản chất, Giáo hội là truyền giáo, nên từ một bản tính như thế, tất yếu phát xuất lòng bác ái hữu hiệu đối với tha nhân, lòng cảm thông biết thấu hiểu, giúp đỡ và động viên”.

Số 183. Bản tiếng Pháp: “Qui oserait enfermer dans un temple et faire taire le message de saint François d’Assise et de la bienheureuse Teresa de Calcutta ? Ils ne pourraient l’accepter. Une foi authentique – qui n’est jamais confortable et individualiste – implique toujours un profond désir de changer le monde…”. Bản dịch: “Ai dám đóng khung sứ điệp của thánh Phan-xi-cô As-si-si và của chân phước Tê-rê-xa thành Calcutta vào trong một ngôi đền thờ và cấm không cho rao giảng? Họ không thể làm như thế. Một niềm tin đích thực – không bao giờ thuận lợi và hoàn toàn cá nhân- luôn bao gồm một sự khao khát sâu xa để thay đổi thế giới…”. Thiết tưởng nên dịch: “Ai dám giam nhốt trong một ngôi đền và làm im tiếng sứ điệp của thánh Phan-xi-cô As-si-si và chân phước Tê-rê-xa thành Calcutta? Các ngài sẽ không chấp nhận chuyện đó! Một niềm tin đích thực – vốn không bao giờ ưa thoải mái và ích kỷ- luôn bao hàm một sự khao khát sâu xa thay đổi thế giới…”

Số 188: Bản tiếng Pháp: “…ce qui implique autant la coopération pour résoudre les causes structurelles de la pauvreté et promouvoir le développement intégral des pauvres, que les gestes simples et quotidiens de solidarité devant les misères très concrètes que nous rencontrons”. Bản dịch: “…điều này buộc phải có sự cộng tác để giải quyết các nguyên nhân thuộc cơ cấu của sự nghèo đói và thúc đẩy sự phát triển toàn diện những kẻ nghèo, như những hành động đơn sơ và thường nhật của tình liên đới trước nỗi khổ rất cụ thể mà chúng ta gặp”. Thiết tưởng nên dịch: “…điều này vừa bao hàm sự cộng tác để giải quyết các nguyên nhân thuộc cơ cấu của sự nghèo đói và thúc đẩy sự phát triển toàn diện những kẻ nghèo, vừa bao hàm các cử chỉ liên đới đơn sơ và thường nhật trước các nỗi khổ rất cụ thể mà chúng ta gặp”.

Số 189. Bản tiếng Pháp: “La solidarité est une réaction spontanée de celui qui reconnaît la fonction sociale de la propriété et la destination universelle des biens comme réalités antérieures à la propriété privée”. Bản dịch: “Tình liên đới là một phản ứng tức thời của người nhận ra phận vụ xã hội về tài sản và sự đánh giá phổ quát về tài sản như thực tại có trước tài sản riêng”. Thiết tưởng nên dịch: “Tình liên đới là một phản ứng tự nhiên của kẻ nhận ra chức năng xã hội của việc sở hữu và mục đích sử dụng chung của tài sản là những thực tại đi trước quyền tư hữu”.

Số 195. Bản tiếng Pháp: “Quand Saint Paul se rendit auprès des Apôtres à Jérusalem, de peur de courir ou d’avoir couru en vain (cf. Ga 2, 2), le critère clé de l’authenticité qu’ils lui indiquèrent est celui de ne pas oublier les pauvres”. Bản dịch: “Khi thánh Phao-lô đến cùng các Tông đồ tại Giê-ru-sa-lem để làm rõ xem ngài đã cố gắng như thế nào hay cố gắng một cách vô ích (x. Gl 2,2), tiêu chuẩn rõ ràng mà các Tông đồ đưa ra cho ngài là đừng quên những người nghèo”. Thiết tưởng nên dịch: “Khi thánh Phao-lô đến cùng các Tông đồ tại Giê-ru-sa-lem vì sợ mình đang chạy hay đã tin một cách vô ích (x. Gl 2,2), tiêu chuẩn chủ chốt về tính chính thực mà các vị chỉ cho ngài là đừng quên những người nghèo khổ”.

Số 198. Bản tiếng Pháp: “En plus de participer au sensus fidei, par leurs propres souffrances ils connaissent le Christ souffrant”. Bản dịch: “Hơn nữa, để chia sẻ vào sensus fidei- cảm thức đức tin, qua những đau khổ của họ, chúng ta nhận biết Đức Ki-tô khổ đau”. Thiết tưởng nên dịch: “Ngoài việc tham dự vào cảm thức đức tin (sensus fidei), họ còn nhận biết Đức Ki-tô khổ đau qua những đau khổ của họ”.

Số 199. Bản tiếng Pháp: “Le pauvre, quand il est aimé, “est estimé d’un grand prix”, et ceci différencie l’authentique option pour les pauvres d’une quelconque idéologie, d’une quelconque intention d’utiliser les pauvres au service d’intérêts personnels ou politiques”. Bản dịch: “Người nghèo, một khi được yêu mến, “được đánh giá cao” và điều này phân biệt định kiến rõ ràng đối với người nghèo không do một ý thức hệ nào, từ một ý thức sử dụng kẻ nghèo để phục vụ cho những điều quan tâm riêng của mình hay của chính trị”. Thiết tưởng nên dịch: “Người nghèo, một khi được yêu mến, thì “được đánh giá rất cao” và điều này khác biệt với việc chọn lựa kẻ nghèo của một ý thức hệ nào đó, của một ý hướng nào đó muốn sử dụng kẻ nghèo để phục vụ cho các lợi ích cá nhân hay lợi ích chính trị”.

Số 207 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Elle finira facilement par être dépassée par la mondanité spirituelle, dissimulée sous des pratiques religieuses, avec des réunions infécondes ou des discours vides”. Bản dịch: “Cộng đoàn đó sẽ bị chìm vào tinh thần thế tục, dù có núp bóng dưới các thực hành tôn giáo, với những buổi hội họp hay những bài diễn văn trống rỗng”. Thiết tưởng nên dịch: “Cộng đoàn đó rốt cục sẽ bị thắng vượt bởi tính thế tục thiêng liêng, núp bóng dưới nhiều thực hành tôn giáo, với những buổi họp vô bổ hay những diễn từ trống rỗng”.

Số 227. Bản tiếng Pháp: “D’autres entrent dans le conflit de telle manière qu’ils en restent prisonniers, perdent l’horizon, projettent sur les institutions leurs propres confusions et insatisfactions, de sorte que l’unité devient impossible”. Bản dịch: “Một số khác tiếp cận sự xung khắc đến độ trở thành nô lệ, mất cả viễn cảnh, phê bình các cơ cấu bằng những lầm lẫn và bất mãn của riêng họ, đến độ không còn có thể tạo được sự hiệp nhất”. Thiết tưởng nên dịch: “Một số khác đi vào trong xung khắc đến độ trở thành tù nhân của nó, đánh mất chân trời, phóng chiếu lên các định chế những lẫn lộn và bất mãn của riêng họ, đến độ sự hiệp nhất trở thành bất khả”.

Số 228 (cuối). Bản tiếng Pháp: “Il ne s’agit pas de viser au syncrétisme ni à l’absorption de l’un dans l’autre, mais de la résolution à un plan supérieur qui conserve, en soi, les précieuses potentialités des polarités en opposition”. Bản dịch: “Đây không nhắm vào chủ nghĩa hỗn hợp cũng không phải hòa trộn người này với kẻ kia, nhưng nhắm vào cách giải quyết với một chương trình cao độ hơn mà tự tại vẫn giữ được các khả năng cao quý của những cực đối kháng”. Thiết tưởng nên dịch: “Đây không nhắm đến chủ nghĩa hỗn hợp hay sự sáp nhập cái này trong cái kia, nhưng nhắm đến việc giải quyết ở một bình diện cao hơn, vốn bảo tồn được trong mình các khả năng quý giá của những cực đối nghịch”.

Số 251. Bản tiếng Pháp: “Dans ce dialogue, toujours aimable et cordial, on ne doit jamais négliger le lien essentiel entre dialogue et annonce, qui porte l’Église à maintenir et à intensifier les relations avec les non chrétiens. Un syncrétisme conciliateur serait au fond un totalitarisme de ceux qui prétendent pouvoir concilier en faisant abstraction des valeurs qui les transcendent et dont ils ne sont pas les propriétaires. La véritable ouverture implique de se maintenir ferme sur ses propres convictions les plus profondes, avec une identité claire et joyeuse, mais “ouvert à celles de l’autre pour les comprendre” et en “sachant bien que le dialogue peut être une source d’enrichissement pour chacun”. Une ouverture diplomatique qui dit oui à tout pour éviter les problèmes ne sert à rien, parce qu’elle serait une manière de tromper l’autre et de nier le bien qu’on a reçu comme un don à partager généreusement”. Bản dịch: “Cuộc đối thoại này phải luôn diễn ra một cách thân thiện và niềm nở, không được bỏ qua liên hệ căn bản giữa đối thoại và rao giảng mà Giáo hội mang đến, phải tuân giữ đúng đắn và tăng cường liên hệ giữa những người chưa phải là Ki-tô hữu. Một chủ nghĩa hòa giải có thể sẽ là nền tảng cho một chủ nghĩa chuyên chế của những người, dù muốn hòa giải, nhưng không nhìn đến các giá trị, muốn vượt lên trên và họ không phải là chủ nhân của chúng. Sự cởi mở chân thành cần nắm vững căn tính trong xác tín sâu xa nhất, nhưng cũng phải cởi mở để có thể hiểu người khác, “trong ý thức cuộc đối thoại sẽ làm phong phú cho cả đôi bên”. Một sự cởi mở theo hình thức ngoại giáo, tất cả đều đồng ý, nhưng lại phủ nhận mọi vấn đề, không đem lại lợi ích gì cả, vì cách này hay cách khác sẽ lừa dối người kia và điều thiện hảo vẫn giữ lại cho mình, mà người khác không được lãnh nhận gì”. Thiết tưởng nên dịch: “Trong cuộc đối thoại này, luôn dễ thương và thân tình, người ta không bao giờ được bỏ qua mối liên hệ thiết yếu giữa đối thoại và loan báo vốn khiến cho Giáo hội duy trì và tăng cường các liên hệ với những người phi Ki-tô hữu. Một chủ nghĩa hỗn hợp hài hòa thật ra chỉ là một chủ nghĩa cực quyền của những kẻ mong muốn hòa giải bằng cách bỏ qua những giá trị vượt lên trên họ mà họ không sở hữu. Sự cởi mở đích thực bao hàm việc đứng vững trên (trong) các xác tín sâu xa nhất của mình, với một căn tính rõ ràng và vui tươi, nhưng “cởi mở với những xác tín của người khác để hiểu họ”, vì “biết rằng cuộc đối thoại có thể là nguồn phong phú cho mỗi bên”. Một sự cởi mở kiểu ngoại giáo, vốn đồng ý với tất cả để tránh các vấn đề, chẳng có ích lợi gì cả, vì đó là một cách lừa dối kẻ khác và chối bỏ điều điều thiện hảo mà mình đã lãnh nhận như ân huệ để quảng đại chia sẻ”.

Số 266. Bản tiếng Pháp: “On ne peut persévérer dans une évangélisation fervente, si on n’est pas convaincu, en vertu de sa propre expérience, qu’avoir connu Jésus n’est pas la même chose que de ne pas le connaître, que marcher avec lui n’est pas la même chose que marcher à tâtons, que pouvoir l’écouter ou ignorer sa Parole n’est pas la même chose, que pouvoir le contempler, l’adorer, se reposer en lui, ou ne pas pouvoir le faire n’est pas la même chose”. Bản dịch: “Chúng ta không thể luôn kiên trì trong việc truyền giáo nhiệt thành, nếu như không được thuyết phục rằng, cùng đi với Người khác với việc đi trong mò mẫm, để có thể lắng nghe Người và việc không biết Lời Người cũng khác với việc có quyền chiêm ngắm Người, thờ lạy Người, yên nghỉ bên Người hay không thể làm việc này thì đó cũng là việc khác”. Thiết tưởng nên dịch: “Người ta không thể kiên trì trong một công cuộc phúc âm hóa nhiệt thành, nếu như không xác tín với kinh nghiệm riêng của mình, rằng đã biết Đức Giê-su không giống như việc chẳng biết Người, rằng đi với Người khác với việc đi trong mò mẫm, rằng có thể lắng nghe Người hay bất biêt Lời Người là không như nhau, rằng có thể chiêm ngắm Người, thờ lạy Người, yên nghỉ trong Người hay không thể làm những việc này chẳng phải là cùng một chuyện”.

Số 286. Bản tiếng Pháp:Par les différentes invocations mariales, liées généralement aux sanctuaires, elle partage l’histoire de chaque peuple qui a reçu l’Évangile, et fait désormais partie de son identité historique”. Bản dịch: “Qua những lời kêu cầu đến Đức Mẹ, thường gắn liền với các linh địa, Mẹ chia sẻ lịch sử của từng dân tộc đã đón nhận Tin Mừng, và biến dân này thành một phần của căn tính Mẹ”. Thiết tưởng nên dịch: “Qua những lời kêu khấn Mẹ khác nhau mà thường gắn liền với các linh địa, Mẹ chia sẻ lịch sử của từng dân tộc đã đón nhận Tin Mừng, và từ nay biến thành một phần trong căn tính lịch sử của họ”.

TẠM KẾT

Xin cảm ơn Quý độc giả đã chịu khó đọc đến trang cuối cùng đây. Sở dĩ chúng tôi phải làm công việc điểm sách này, là vì 3 lý do:

1- Ích lợi thiêng liêng của các linh hồn, nhất là của anh chị em giáo dân. Cần cho họ một bản dịch tương đối đúng đắn. Vả lại, theo chỗ chúng tôi biết, đây là bản dịch duy nhất được in ra thành sách và phổ biến khắp nước (3 bản dịch khác nằm trên mạng, ít người biết đến hay vào được).

2- Uy tín của Giáo Hội. Nếu anh em lương dân, một trí thức chằng hạn, do muốn tìm hiểu về Giáo Hội mà đọc Tông huấn qua bản dịch này, nhưng khi thấy nó trúc trắc khó hiểu, bèn tìm cách đối chiếu với bản tiếng Anh, tiếng Pháp để rồi thấy nó mắc quá nhiều lỗi. Lúc ấy họ sẽ nghĩ sao về Giáo Hội, về nền học thuật (và dịch thuật) của Giáo Hội?

3- Tiếng tăm của dịch giả. Đây không phải là lần đầu tiên cha Nguyễn Văn Trinh dịch sách. Ngài đã từng đứng đầu “nhóm phiên dịch Giáo lý Hội thánh Công giáo” của Giáo phận Sài Gòn, từng dịch và in các thông điệp Caritas in veritate và Spe Salvi của ĐGH Bê-nê-đích-tô XVI, và mới đây cũng đã dịch và in thông điệp Laudato Si’ của ĐGH Phan-xi-cô. Nhưng quả thật là công việc của ngài có nhiều điều đáng nói. Con xin lỗi Cha nếu bài điểm sách này làm Cha phiền lòng.

Huế, ngày 06-03-2016.

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi. Địa chỉ email: witness2005@gmail.com 

Lần tới: Đọc bản dịch “Thông điệp Laudato Si’” của Linh mục Aug. Nguyễn Văn Trinh.



nghe - xem

Ý chỉ cầu nguyện tháng 8 của Đức Thánh Cha Phanxicô

Nhờ thể thao, chúng ta có thể kiến tạo một nền văn hóa gặp gỡ giữa mọi người để có được một thế giới hòa bình.

Tôi thích mơ ước thể thao như một sự thực hành phẩm giá con người, được biến đổi nhờ tình huynh đệ.

Chúng ta có muốn cùng nhau tập luyện với ý nguyện này hay không? Ước gì thể thao thăng tiến cuộc gặp gỡ huynh đệ giữa các dân tộc và đóng góp cho nền hòa bình trên thế giới.  (Vatican tiếng Việt)

 
tư liệu








liên kết website