• GHXHCG trang bị cho chúng ta
  • Những nguyên tắc để suy tư,
  • Những tiêu chuẩn để phán đoán,
  • Những chỉ dẫn để hành động.
Những tiêu chí áp dụng Chương VIII Tông huấn Amoris Laetitia
GHXHCG - Đăng ngày 19-1-2017 9:33 AM GMT+7 - Lượt xem: 528

Malta: Các Giám mục ban hành văn kiện “Những tiêu chí áp dụng Chương VIII Tông huấn Amoris Laetitia”

Ngày 8-01 vừa qua, Hội đồng Giám mục đảo quốc Malta đã ban hành văn kiện “Tiêu chí áp dụng Chương VIII Tông huấn Amoris Laetitia”. Đây là văn kiện đầu tiên tại châu Âu đưa Tông huấn Amoris Laetitia vào thực tiễn. Báo L’Osservatore Romano số ra ngày 13-14 tháng Giêng đã chào mừng văn kiện này.

Đề cập những tiêu chí được các giám mục Malta đưa ra vào đúng ngày lễ Hiển linh, tờ nhật báo của Toà Thánh nhấn mạnh những tiêu chí này là cách thức hữu hiệu “trong việc đồng hành với những người, đang chờ được xem xét, tựa như ba Đạo sĩ vẫn mong chuyện đời mình được đọc dưới ánh sáng của Chúa Giêsu”.

Văn kiện mời gọi các linh mục thuộc hai giáo phận tại đảo quốc Malta “hãy đối thoại” với “những người được coi là đang trong tình trạng bất thường”, đặc biệt đưa ra một “tiến trình xem xét” những trường hợp “hoặc đã ly thân, hoặc đã ly dị và những người đã bước vào một cuộc hôn nhân mới”.

“Tiến trình xem xét”

Đức cha Charles Scicluna, Tổng giám mục Malta, và Đức cha Mario Grech, Giám mục Gozo, yêu cầu các linh mục của mình “phải nắm rõ sự khác biệt giữa hai hoàn cảnh, vì chẳng có trường hợp nào giống nhau cả”.

Các giám mục đặc biệt lưu ý nên đề nghị những người ly dị tái hôn hãy “dành thời giờ suy tư và thống hối để xét mình” và hỏi kỹ họ về việc “kiêng cữ chuyện vợ chồng”, “dù việc đó thực tế không dễ dàng”.

Có thể làm cha mẹ đỡ đầu

“Vào cuối tiến trình xem xét đã được thực hiện một cách ‘khiêm hạ, cẩn trọng, yêu mến Giáo hội và giáo huấn của Giáo hội, chân thành tìm kiếm ý Chúa và khao khát tìm cách giải quyết hoàn hảo nhất’, nếu một người đã ly thân hoặc ly dị đang sống một quan hệ mới bắt đầu nhận ra và tin mình vẫn được bình an với Chúa, thì người ấy không thể bị khước từ việc lãnh nhận các bí tích hoà giải và Thánh Thể”, các giám mục Malta khẳng định.

Các giám mục cũng nhấn mạnh rằng tiến trình xem xét phải điều nghiên việc những người ly dị tái hôn tham gia đời sống mục vụ của Giáo hội. “Không được ngăn những người này được làm cha mẹ đỡ đầu”, các giám mục nêu rõ.

Khuyến  khích học hỏi giáo huấn của tông huấn Amoris Laetitia

Khi nhấn mạnh phải quan tâm “những người là nạn nhân vô tội của cuộc ly thân, ly dị hoặc bị bỏ rơi”, các giám mục yêu cầu các linh mục “phải cẩn thận tránh cực đoan: rất khắt khe hoặc quá dễ dãi”.

Các giám mục cũng cho rằng “để tránh nhầm lẫn và gây tai tiếng nơi các tín hữu”, các cộng đoàn cần tổ chức học hỏi và cổ võ giáo huấn của Tông huấn Amoris Laetitia.

Luật pháp Malta đã cho phép ly dị vào năm 2011, trở thành quốc gia cuối cùng ở châu Âu nhìn nhận điều này. Cho đến khi có luật này, sau cuộc trưng cầu dân ý với 53% tán thành, các đôi vợ chồng có thể chia tay nhưng không được tái hôn nếu chưa được tuyên bố tiêu hôn.

(Nguồn: La Croix)

 Thành Thi chuyển ngữ  (WHĐ 17.01.2017) 

 

CHƯƠNG TÁM: ĐỒNG HÀNH, PHÂN ĐỊNH, VÀ HỘI NHẬP SỰ YẾU ĐUỐI

291. Các Nghị Phụ Thương Hội Đồng tuyên bố rằng mặc dù Giáo hội ý thức bất cứ sự cắt đứt nào của mối dây hôn phối cũng “đều đi ngược lại thánh ý Thiên Chúa”, song Giáo hội cũng “ý thức về sự mỏng dòn của nhiều con cái mình”.[1] Được soi sáng bởi ánh nhìn của Đức Giêsu Kitô, “với tình thương, Giáo hội hướng về những ai tham dự vào đời sống Giáo hội một cách không trọn vẹn, nhìn nhận rằng ơn sủng Thiên Chúa cũng hoạt động trong đời sống của họ bằng cách ban cho họ ơn can đảm để làm việc thiện, chăm sóc nhau trong yêu thương, và phục vụ cộng đoàn nơi họ sống và làm việc”.[2] Sự tiếp cận này cũng được thúc đẩy bởi việc chúng ta cử hành Năm Thánh Lòng Thương Xót. Mặc dù Giáo hội không ngừng nhấn mạnh tiếng gọi nên hoàn thiện và thúc đẩy một sự đáp trả trọn vẹn hơn đối với Thiên Chúa, “Giáo hội cũng phải ân cần quan tâm đồng hành với những con cái yếu đuối nhất của mình – những người cho thấy các dấu hiệu của một tình yêu bị thương tích và rối loạn – để phục hồi nơi họ niềm hy vọng và tin tưởng, giống như ngọn hải đăng ở cảng hay như ngọn đuốc giương lên giữa dân chúng để soi dẫn cho những kẻ lạc đường hay những ai đang bị bủa vây trong bão tố”.[3] Chúng ta không được quên rằng công việc của Giáo hội thường giống như công việc của một bệnh viện tiền phương.

292. Hôn nhân Kitô giáo, như phản ảnh sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo hội, được thực hiện trọn vẹn trong sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ trao hiến chính mình cho nhau trong một tình yêu độc hữu, trung thành và tự do, họ thuộc về nhau cho đến chết và họ mở ra đón nhận việc truyền sinh, họ được thánh hiến bằng bí tích có sức trao ban ơn sủng để họ trở thành một Hội Thánh tại gia và trở nên men sự sống mới cho xã hội. Một số hình thức kết hợp đi ngược lại lý tưởng này cách tận căn, trong khi một số hình thức khác thực hiện lý tưởng này ít nhất một phần và theo cách loại suy. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố rằng Giáo hội không xem thường những yếu tố tích cực trong những hoàn cảnh chưa hay không còn tương hợp với giáo huấn của Giáo hội về hôn nhân.[4]

TÍNH TIỆM TIẾN TRONG SĂN SÓC MỤC VỤ

293. Các Nghị Phụ cũng lưu ý đến hoàn cảnh đặc biệt của một hôn phối thuần túy dân sự hay thậm chí chỉ đơn thuần là sự sống chung, với sự phân biệt rõ ràng giữa hai trường hợp ấy, các ngài ghi nhận rằng “khi những kết hợp như thế đạt được một sự ổn định nhất định, được pháp luật nhìn nhận, được đặc trưng bởi tình thương và trách nhiệm thâm sâu đối với con cái, và cho thấy có một khả năng vượt qua các thử thách, thì những sự kết hợp ấy có thể cung ứng cơ hội cho việc săn sóc mục vụ, với đích ngắm là cuối cùng dẫn tới việc cử hành bí tích hôn nhân”.[5] Mặt khác, thật rất đáng ưu tư việc nhiều người trẻ ngày nay không tin vào hôn nhân, họ sống chung và trì hoãn vô thời hạn việc cam kết hôn nhân, trong khi những người khác thì phá vỡ một cam kết đã được đưa ra để rồi ngay lập tức làm một cam kết mới. “Là thành viên của Giáo hội, họ cũng cần sự săn sóc mục vụ đầy ý nghĩa thương xót và trợ giúp”.[6] Vì các mục tử của Giáo hội không chỉ có trách nhiệm thăng tiến hôn nhân Kitô giáo, mà còn có trách nhiệm “biện phân mục vụ đối với các hoàn cảnh của rất nhiều người không còn sống thực tại ấy. Cần phải đi vào cuộc đối thoại mục vụ với những người này để nhận ra những yếu tố trong đời sống họ có thể dẫn đến một sự cởi mở hơn nữa đối với Tin Mừng về hôn nhân ở mức trọn vẹn của nó”.[7] Trong việc biện phân mục vụ này, cần phải “nhận diện những yếu tố có thể thúc đẩy việc Phúc Âm hóa và sự phát triển nhân bản cũng như thiêng liêng”.[8]

294. “Sự chọn lựa một cuộc hôn phối dân sự, hay trong nhiều trường hợp chỉ đơn thuần là một sự sống chung, thường không bị thúc đẩy bởi thành kiến hay bởi sự phản kháng đối với một kết hợp có tính bí tích, nhưng thường do những tình huống có tính văn hóa hoặc ngẫu nhiên”.[9] Trong những trường hợp ấy, người ta cũng có thể bày tỏ sự kính trọng đối với các dấu hiệu của tình yêu mà, cách nào đó, phản ảnh chính tình yêu của Thiên Chúa.[10] Chúng ta biết rằng có “một sự gia tăng không ngừng con số những người mà sau khi sống chung một thời gian dài, họ xin được kết hôn trong Giáo hội. Việc đơn thuần sống chung thường là một chọn lựa xuất phát từ một thái độ nói chung chống lại bất cứ gì có tính thiết chế hay có tính dứt khoát; cũng có thể người ta chọn lựa như thế trong khi chờ đợi sự ổn định hơn trong đời sống (chẳng hạn, một công việc làm và một thu nhập ổn định). Tại một số quốc gia, những kết hợp de facto (tức chuyện đã rồi trong thực tế) có rất nhiều, không chỉ vì người ta tẩy chay các giá trị liên quan đến gia đình và hôn phối, nhưng chủ yếu bởi vì việc cử hành lễ cưới được thấy là quá tốn kém trong bối cảnh xã hội. Như vậy, tình trạng nghèo nàn vật chất kéo người ta vào những sự kết hợp de facto”.[11] Dù trường hợp nào đi nữa, “tất cả những hoàn cảnh này đòi một sự đáp trả tích cực, tức tìm cách chuyển hóa chúng thành những cơ hội có thể dẫn tới thực tại đầy đủ của hôn nhân và gia đình phù hợp với Tin Mừng. Những đôi vợ chồng này cần được đón tiếp và hướng dẫn một cách kiên nhẫn và thận trọng”.[12] Thử xem cách mà Đức Giêsu ứng xử với người phụ nữ Samari (x. Ga 4,1-26): Người đề cập đến khát vọng tình yêu đích thực của chị, để giải thoát chị khỏi bóng tối trong cuộc đời chị và đưa chị đến niềm vui trọn vẹn của Tin Mừng.

295. Theo tinh thần ấy, Thánh Phaolô đề ra cái gọi là “luật tiệm tiến” với nhận thức rằng con người “hiểu biết, yêu mến và đạt tới sự thiện luân lý theo những giai đoạn phát triển khác nhau”.[13] Đây không phải là một “sự tiệm tiến của luật” nhưng đúng hơn là một sự tiệm tiến trong việc thi hành cách khôn ngoan những hành động tự do xét về phía những chủ thể không ở trong một vị thế có thể hiểu, trân trọng, hay thực thi đầy đủ những đòi hỏi khách quan của luật. Vì luật tự nó là một quà tặng của Thiên Chúa giúp chỉ đường, một quà tặng cho mọi người không trừ ai; nên nó có thể được tuân theo với sự trợ giúp của ơn sủng, ngay cả dù mỗi con người “tiến tới từ từ với sự hội nhập không ngừng những quà tặng của Thiên Chúa và những đòi hỏi của tình yêu tuyệt đối và dứt khoát của Thiên Chúa trong toàn thể đời sống cá nhân và xã hội của mình”.[14]

PHÂN ĐỊNH NHỮNG HOÀN CẢNH “BẤT THƯỜNG”[15]

296. Thượng Hội Đồng đề cập những hoàn cảnh yếu đuối và bất toàn khác nhau. Ở đây tôi muốn nhắc lại một điều mà tôi đã cố gắng làm sáng tỏ cho toàn thể Giáo hội, phòng tránh trường hợp chúng ta đi lạc: “Có hai cách nghĩ vẫn thấy diễn ra trong lịch sử Giáo hội: đó là, loại bỏ và phục hồi. Kể từ thời Công đồng Giêrusalem, con đường của Giáo hội luôn luôn là con đường của Đức Giêsu, con đường thương xót và phục hồi… Con đường của Giáo hội là không lên án bất cứ ai vĩnh viễn; đó là đổ dầu thơm lòng thương xót của Thiên Chúa trên tất cả những ai chân thành kêu xin… Vì bác ái đích thực thì không bao giờ đòi người ta phải xứng đáng, nó luôn luôn vô điều kiện và nhưng không”.[16] Vì thế, cần phải “tránh những phán quyết không có sự xem xét đến tính phức tạp của các hoàn cảnh khác nhau” và cần phải “lưu tâm đến nỗi khốn khổ mà người ta phải chịu do hoàn cảnh của họ”.[17]

297. Điều quan trọng là đi đến với mọi người, giúp mỗi người tìm ra cách thích đáng để tham dự vào cộng đoàn Giáo hội và nhờ đó họ kinh nghiệm mình được chạm đến bởi một lòng thương xót “nhưng không, vô điều kiện và mình hoàn toàn bất xứng”. Không ai có thể bị lên án vĩnh viễn, vì đó không phải là lô-gíc của Tin Mừng! Ở đây tôi không chỉ nói về những người ly dị và tái hôn, nhưng nói về mọi người, trong bất luận hoàn cảnh nào. Dĩ nhiên, nếu một ai đó phô bày một tội khách quan như thể đó là một phần của lý tưởng Kitô giáo, hoặc muốn áp đặt một cái gì đó khác với những gì Giáo hội giảng dạy, thì người ấy không thể mạo nhận danh nghĩa giảng dạy cho kẻ khác; đây là một trường hợp tự tách mình ra khỏi cộng đoàn (x. Mt 18,17). Những người ấy cần phải lắng nghe lại sứ điệp Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải của Tin Mừng. Tuy nhiên, ngay cả đối với một người như thế, vẫn có thể có cách để tham dự vào đời sống của cộng đoàn, ví dụ, trong công tác xã hội, trong các cuộc họp mặt cầu nguyện, hoặc bằng một cách nào đó mà người ấy có thể nghĩ ra, với sự phân định của cha sở. Liên quan tới cách ứng xử đối với các hoàn cảnh “bất thường”, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã đạt được một sự đồng thuận chung mà tôi vốn ủng hộ: “Khi xem xét một phương thức mục vụ đối với những người đã ký kết một hôn phối dân sự, những người ly dị và tái hôn, hay những người chỉ đơn thuần sống chung, Giáo hội có trách nhiệm giúp họ hiểu khoa sư phạm ơn sủng của Thiên Chúa trong cuộc đời họ, và cung ứng cho họ sự trợ giúp để họ có thể đạt được đầy đủ kế hoạch của Thiên Chúa cho mình”,[18] điều này luôn luôn có thể, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

298. Những người ly dị đã đi vào một mối kết hợp mới, chẳng hạn, có thể thuộc rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, mà ta không được phớt lờ hay ép vào những cách phân loại quá cứng nhắc và chẳng còn chừa chỗ nào cho một sự phân định cá nhân hay mục vụ thích hợp. Ví như trường hợp một mối kết hợp thứ hai đã vững chắc qua thời gian, với các con cái mới, với sự trung thành được chứng tỏ, với sự quảng đại tự hiến, với nhiệt tâm sống đạo, với một ý thức về tình trạng bất thường của mình và về cái khó khăn sừng sững của việc làm sao quay lui mà đồng thời trong lương tâm không cảm thấy rằng mình sẽ rơi vào những tội mới. Giáo hội ý thức những hoàn cảnh “trong đó, vì những lý do hệ trọng, như việc nuôi dạy con cái, một đôi nam nữ không thể thỏa mãn sự đòi buộc phải chia tay”.[19] Cũng có những trường hợp trong đó người ta đã cố gắng hết sức để cứu cuộc hôn nhân thứ nhất của mình và đã bị ruồng bỏ một cách bất công, hay “những người đã đi vào một mối kết hợp thứ hai vì lợi ích của việc nuôi dạy con cái, và đôi khi trong lương tâm họ tin rằng cuộc hôn phối trước đây đã đổ vỡ vô phương sửa chữa ấy là một hôn phối không thành hiệu”.[20] Còn ví như trường hợp khác, một mối kết hợp mới xảy ra từ một cuộc ly dị chưa lâu, với tất cả nỗi đau khổ và hoang mang gây ra cho con cái và toàn gia đình, hay trường hợp một người cố lì trong tình trạng bỏ bê bổn phận đối với gia đình. Phải thấy rõ rằng đó không phải là lý tưởng mà Tin Mừng đề ra cho hôn nhân và gia đình. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố rằng sự phân định của các mục tử phải luôn luôn được làm “với sự biện biệt thích đáng”,[21] với một cách tiếp cận “biện phân kỹ lưỡng các hoàn cảnh”.[22] Chúng ta vốn biết rằng “những cách kê toa dễ dãi” không hề tồn tại.[23]

299. Tôi đồng ý với nhiều Nghị Phụ Thượng Hội Đồng trong ghi nhận rằng “những tín hữu đã ly dị và tái hôn về mặt dân sự cần phải được hội nhập đầy đủ hơn vào các cộng đoàn Kitô hữu bằng những cách có thể, trong khi phòng tránh bất cứ điều gì gây gương xấu. Lô-gíc hội nhập là chìa khóa của việc săn sóc mục vụ đối với họ, một sự săn sóc cho phép họ không chỉ nhận ra rằng mình thuộc về Giáo hội là Thân Thể Đức Kitô, mà còn biết rằng mình có thể có được một kinh nghiệm đầy hoa trái và niềm vui trong đó. Họ đã lãnh Phép Rửa; họ là anh chị em; Chúa Thánh Thần đổ vào trái tim họ những ơn sủng và khả năng để phục vụ cho thiện ích chung. Sự tham gia của họ có thể được thể hiện trong những việc phục vụ khác nhau trong Giáo hội, điều này nhất thiết đòi hỏi sự phân định xem ta có thể vượt qua những hình thức nào trong nhiều hình thức cấm cản khác nhau vốn đang được áp dụng trong cơ cấu phụng vụ, mục vụ, giáo dục và tổ chức. Những người ấy cần cảm thấy mình không phải là những thành viên bị tuyệt thông của Giáo hội, nhưng là những thành viên sống động, có thể sống và lớn lên trong Giáo hội, và kinh nghiệm Giáo hội như một người mẹ luôn đón nhận mình, người mẹ ân cần săn sóc và khích lệ mình trên nẻo đường của sự sống và của Tin Mừng. Sự hội nhập này cũng rất cần trong việc săn sóc và giáo dục Kitô giáo cho con cái họ, là đối tượng phải được xem là quan trọng nhất”.[24]

300. Nếu chúng ta xem xét những hoàn cảnh cụ thể quá đỗi đa dạng như những gì tôi vừa đề cập, thì dễ nhận hiểu rằng không thể kỳ vọng Thượng Hội Đồng hay Tông Huấn này cung cấp một bộ luật chung mới, có tính qui chuẩn và có thể áp dụng cho mọi trường hợp. Điều có thể, đó là một sự khích lệ mới mẻ để đảm nhận một sự phân định cá nhân và mục vụ đầy trách nhiệm đối với những trường hợp cụ thể, một sự phân định trong đó người ta nhìn nhận rằng vì “mức trách nhiệm không như nhau trong mọi trường hợp”,[25] nên những hệ quả hay những hiệu ứng của một qui tắc không luôn đương nhiên giống nhau.[26] Các linh mục có bổn phận “đồng hành [với những người ly dị và tái hôn] để giúp họ hiểu hoàn cảnh của họ dựa vào giáo huấn của Giáo hội và những hướng dẫn của giám mục. Một sự khảo sát lương tâm xuyên qua những khoảnh khắc hồi tâm và thống hối sẽ rất hữu ích cho tiến trình này. Những người ly dị và tái hôn cần tự vấn: mình đã hành động thế nào đối với con cái khi mối kết hợp vợ chồng đi vào khủng hoảng; mình đã có những cố gắng để hòa giải hay không; người bị mình ruồng bỏ đã ra sao; mối quan hệ mới có những hệ quả gì trên những người khác trong gia đình và trong cộng đoàn tín hữu; và mình đang nêu gương gì cho các bạn trẻ đang chuẩn bị hôn nhân. Một sự hồi tâm chân thành có thể củng cố niềm tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa vốn không từ chối bất cứ ai”.[27]Chúng ta đang nói về một tiến trình đồng hành và phân định có thể “dẫn dắt các tín hữu tới một ý thức về hoàn cảnh của họ trước mặt Thiên Chúa. Việc trao đổi với linh mục, ở tòa trong, sẽ góp phần đào tạo một phán đoán đúng đắn về những gì đang cản trở khả năng cho một sự tham dự đầy đủ hơn vào đời sống của Giáo hội, và về những bước nào có thể thúc đẩy khả năng ấy và tăng cường nó. Vì sự tiệm tiến không nằm trong luật (x. Familiaris Consortio, 34), nên sự phân định này không bao giờ bỏ qua những đòi hỏi của Tin Mừng về sự thật và bác ái, như Giáo hội đã nêu. Để có được sự phân định ấy, nhất thiết phải có những điều kiện sau đây: sự khiêm tốn, sự thận trọng và lòng yêu mến đối với Giáo hội và giáo huấn của Giáo hội, lòng chân thành tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa và một niềm khát khao đáp lại thánh ý Chúa một cách hoàn hảo hơn”.[28] Những tâm thế này là thiết yếu để tránh mối nguy lớn của những cách hiểu sai lầm, chẳng hạn cho rằng bất cứ linh mục nào cũng có thể nhanh chóng ban “sự chuẩn chước”, hay cho rằng một số người có thể đạt được những đặc ân về bí tích bằng cách mua chuộc. Khi một người tế nhị và có trách nhiệm – tức người không đặt những mong muốn của riêng mình lên trên thiện ích chung của Giáo hội – gặp một mục tử có khả năng nhận biết tính hệ trọng của vấn đề mà mình đang đối diện, thì không thể có nguy cơ rằng một sự phân định riêng biệt nào đó có thể khiến người ta nghĩ rằng Giáo hội đang dùng một tiêu chuẩn kép.

NHỮNG YẾU TỐ GIẢM NHẸ TRONG PHÂN ĐỊNH MỤC VỤ

301. Để có một nhận hiểu thích đáng về khả năng và nhu cầu đối với sự phân định đặc biệt trong một số hoàn cảnh “bất thường”, có một điều luôn luôn phải lưu ý, nhằm phòng tránh bất cứ ai nghĩ rằng các đòi hỏi của Tin Mừng đang bị suy tổn cách nào đó. Giáo hội có sẵn một kho tàng suy tư vững chắc liên quan đến những yếu tố và những hoàn cảnh giảm nhẹ. Vì thế người ta không còn có thể đơn giản nói rằng tất cả những ai ở trong bất cứ hoàn cảnh “bất thường” nào đó đều đang sống trong tình trạng tội nguy tử và bị tước mất ơn thánh hóa. Có nhiều điều liên quan ở đây, chứ không duy chỉ là tình trạng không biết luật. Một chủ thể có thể biết rõ luật ấy, nhưng gặp khó khăn lớn trong việc nhận hiểu “các giá trị cốt yếu của nó”,[29] hoặc đương sự ở trong một hoàn cảnh cụ thể vốn không cho phép mình hành động cách nào khác hay quyết định cách nào khác mà không vướng thêm tội. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nói: “có thể tồn tại các yếu tố làm hạn chế khả năng đưa ra một quyết định”.[30]Thánh Tôma Aquinô nhìn nhận rằng một người có thể sở đắc ân phúc và lòng bác ái, nhưng không thể thực thi một số nhân đức;[31] nói cách khác, dù một người nào đó có thể sở đắc tất cả các nhân đức luân lý được ban cho, anh ta vẫn không cho thấy rõ ràng sự tồn tại của một nhân đức nào đó, bởi vì việc thực hành bên ngoài của nhân đức ấy gặp phải khó khăn: “Khi ta nói rằng một số vị thánh không có những nhân đức nào đó, thì đấy là vì các ngài gặp khó khăn trong việc thể hiện các nhân đức ấy, dù các ngài vẫn có thiên năng về tất cả các nhân đức”.[32]

302. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công giáo đề cập rõ ràng những yếu tố này: “trách nhiệm đối với một hành động có thể được giảm thiểu hay thậm chí được hủy bỏ do bởi ngu dốt, vô ý, bị cưỡng ép, sợ hãi, thói quen, những quyến luyến thái quá, và do các yếu tố tâm lý xã hội khác nữa”.[33] Trong một đoạn khác, Sách Giáo Lý một lần nữa qui chiếu đến những trường hợp làm giảm nhẹ trách nhiệm luân lý, và đề cập khá dài về “sự thiếu trưởng thành tâm cảm, áp lực của thói quen thủ đắc, những tình trạng bấn loạn hay những yếu tố tâm lý xã hội khác làm giảm đi mức tội luân lý”.[34] Do đó, một phán quyết tiêu cực về một hoàn cảnh khách quan không hề hàm ý một phán quyết về sự qui gán trách nhiệm hay mức tội của người liên hệ.[35] Trên cơ sở những xác tín này, tôi cho là rất phù hợp điều mà nhiều Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn khẳng định: “Trong một số tình huống, người ta thấy rất khó hành động khác đi. Do đó, trong khi thượng tôn một qui luật chung, cần phải nhận ra rằng trách nhiệm đối với một số hành động hay quyết định thì không giống nhau trong mọi trường hợp. Sự phân định mục vụ, trong khi lưu ý đến lương tâm được đào tạo thích đáng của người ta, cần phải xem xét những hoàn cảnh này. Ngay cả những hệ quả của các hành động cũng không nhất thiết giống nhau trong mọi trường hợp.”[36]

303. Nhận ra ảnh hưởng của những yếu tố cụ thể như thế, chúng ta có thể thêm rằng trong một số hoàn cảnh không thể hiện một cách khách quan nhận thức của chúng ta về hôn nhân, thì lương tâm của cá nhân cần phải được Giáo hội xét đến nhiều hơn. Dĩ nhiên, phải cố gắng hết sức để thúc đẩy sự phát triển của một lương tâm sáng suốt, được đào tạo và được hướng dẫn bởi sự phân định nghiêm túc và có trách nhiệm của vị mục tử, và phải khích lệ một niềm tin mạnh mẽ hơn nữa vào ơn sủng của Thiên Chúa. Tuy nhiên lương tâm có nhiều việc hơn để làm, chứ không duy chỉ việc nhìn nhận rằng một hoàn cảnh cụ thể nào đó thì không phù hợp cách khách quan với các đòi hỏi của Tin Mừng. Nó cũng có thể chân thành và trung thực nhận ra điều gì bây giờ là sự đáp trả quảng đại nhất có thể dâng lên Thiên Chúa, và đi tới chỗ nhìn thấy – với một sự chắc chắn luân lý nào đó – rằng đấy là điều mà Thiên Chúa đang mời gọi giữa cơ man những giới hạn cụ thể của mình, trong khi vẫn còn bất cập so với lý tưởng khách quan. Dù sao đi nữa, chúng ta hãy nhớ rằng sự phân định này có tính năng động; nó phải luôn mở ra cho những chặng phát triển mới và hướng đến những quyết định mới vốn có thể giúp cho cái lý tưởng được hiện thực đầy đủ hơn.

CÁC QUI TẮC VÀ SỰ PHÂN ĐỊNH

304. Thật là bất cập việc duy chỉ xét xem các hành động của một cá nhân có phù hợp với một luật hay qui tắc chung hay không, bởi vì như vậy là chưa đủ để phân định và bảo đảm sự trung thành hoàn toàn đối với Thiên Chúa trong đời sống cụ thể của một con người. Tôi tha thiết kêu gọi rằng chúng ta phải luôn nhớ một giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô và học biết cách vận dụng vào trong việc phân định mục vụ của mình: “Đành rằng cần phải có những nguyên tắc chung, nhưng khi chúng ta càng đi vào chi tiết, chúng ta càng thường xuyên gặp các khiếm khuyết… Trong lãnh vực hành động, chân lý hay sự đúng đắn về mặt thực hành thì không giống nhau khi áp dụng vào chi tiết, mà chỉ đúng cho các nguyên tắc chung thôi; và ở đâu có sự đúng đắn giống nhau trong chi tiết, thì nó cũng không được nhận biết như nhau đối với mọi người… Nguyên tắc sẽ được thấy là thất bại, khi chúng ta đi xa hơn vào chi tiết”.[37] Quả đúng là các qui tắc chung cho thấy một sự thiện hảo mà người ta không bao giờ được xem thường hay thờ ơ, nhưng trong công thức diễn đạt của chúng, chúng không thể tuyệt đối dung nạp hết mọi hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, chính vì lý do đó, phải nói rằng những gì thuộc về một sự phân định thực tế trong những trường hợp cụ thể thì không thể được nâng lên hàng qui tắc. Bởi điều đó sẽ không chỉ đưa tới một phán quyết nghiệt ngã, mà còn đe dọa chính các giá trị vốn phải được đặc biệt quan tâm giữ gìn.[38]

305. Vì thế, vị mục tử không thể nghĩ rằng mình chỉ cần đơn giản áp dụng các luật luân lý cho những người sống trong các hoàn cảnh “bất thường”, cơ hồ như các luật ấy là những viên đá để mình ném vào đời sống người ta. Điều đó cho thấy trái tim khép kín của kẻ quen ẩn nấp đằng sau các giáo huấn của Giáo hội, “ngồi trên tòa Môsê và đôi khi phán xử với thái độ kẻ cả và thiển cận những trường hợp khó khăn và những gia đình bị thương tích”.[39] Theo cùng chiều hướng này, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế đã ghi nhận rằng “luật tự nhiên không thể được trình bày như một bộ qui tắc đã được thiết lập để tiên thiên áp vào chủ thể luân lý; đúng hơn, nó là một nguồn cảm hứng khách quan cho tiến trình đưa ra quyết định rất riêng tư của người ta”.[40] Do bởi những tình trạng điều kiện hóa và những yếu tố giảm nhẹ, có thể rằng trong một tội khách quan nào đó – vốn có thể không được cảm thấy là tội hay hoàn toàn là tội, theo chủ quan – thì người ấy có thể sống trong ân sủng Thiên Chúa, có thể yêu thương và cũng có thể lớn lên trong đời sống ân sủng và bác ái, trong khi nhận sự trợ giúp của Giáo hội cho mục đích này.[41] Việc phân định phải giúp tìm ra những cách khả dĩ để đáp lại tiếng Chúa và để lớn lên ngay giữa các giới hạn. Khi suy nghĩ rằng mọi sự chỉ có thể hoặc trắng hoặc đen, chúng ta đôi khi đóng chặt con đường của ơn sủng và của sự triển nở, và cản trở những nẻo đường thánh hóa là những nẻo đường tôn vinh Thiên Chúa. Ta hãy nhớ rằng “một bước nhỏ, ở giữa những giới hạn to lớn của phận người, có thể làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn là một đời sống xem chừng nề nếp, nhưng êm ru đi qua ngày tháng mà không phải đương đầu với những khó khăn đáng kể nào”.[42] Việc săn sóc mục vụ trong thực tế của các thừa tác viên và các cộng đoàn không được bỏ qua thực tại này.

306. Trong mọi hoàn cảnh, khi giúp đỡ những người gặp khó khăn trong việc sống trọn luật Chúa, phải giúp họ nghe rõ lời mời gọi theo đuổi con đường đức ái (via caritatis). Bác ái huynh đệ là luật thứ nhất của các Kitô hữu (x. Ga 15,12; Gal 5,14). Chúng ta không được quên những lời khẳng định mạnh mẽ của Thánh Kinh: “Hãy yêu thương nhau không ngừng, vì tình yêu che lấp muôn vàn tội lỗi” (1Pr 4,8); “Hãy đái tội lập công, bằng cách làm việc nghĩa, là tỏ lòng từ bi đối với người nghèo, để thời thịnh vượng … được kéo dài” (Đn 4,24); “Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi” (Hc 3,30). Đây cũng là điều Thánh Augustinô đã dạy: “Khi xảy ra hỏa hoạn, ta chạy đi tìm nước để dập lửa… thì cũng vậy, nếu ngọn lửa tội lỗi bùng lên từ đống rơm của mình và làm ta lo lắng, thì nếu gặp cơ hội để thực thi một hành động của lòng thương xót, chúng ta hãy vui mừng đón lấy, như thể đó là một nguồn nước giúp ta dập tắt ngọn lửa kia”.[43]

LÔ-GÍC CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG MỤC VỤ

307. Để tránh mọi sự hiểu lầm, tôi muốn chỉ ra rằng Giáo hội không bao giờ có thể ngừng việc trình bày trọn vẹn lý tưởng của hôn nhân, tức kế hoạch của Thiên Chúa trong tất cả tầm vóc cao cả của nó: “Những người trẻ đã lãnh Phép Rửa cần được thúc đẩy để hiểu rằng Bí tích Hôn phối có thể làm phong phú những viễn tượng tình yêu của họ, và rằng họ có thể được nâng đỡ nhờ ân sủng của Đức Kitô trong bí tích ấy và nhờ khả năng tham dự đầy đủ vào đời sống Giáo hội”.[44] Thái độ thờ ơ, chủ trương tương đối thuộc bất cứ loại nào, hay một sự ấm ớ trong việc diễn đạt lý tưởng ấy, tất cả đều cho thấy sự thiếu trung thành đối với Tin Mừng, đồng thời cũng cho thấy sự thiếu tình yêu của Giáo hội đối với chính những người trẻ. Việc bày tỏ cảm thông đối với những hoàn cảnh ngoại lệ không bao giờ làm nhạt mờ ánh sáng của lý tưởng trọn vẹn hơn, cũng không cắt xén bớt những gì Chúa Giêsu truyền cho con người. Ngày nay, nỗ lực mục vụ để củng cố hôn nhân và qua đó phòng tránh hôn nhân gãy đổ thì quan trọng hơn việc săn sóc mục vụ đối với những trường hợp thất bại.

308. Đồng thời, từ ý thức của chúng ta về tầm quan trọng của những trường hợp giảm nhẹ – thuộc tâm lý học, lịch sử, và thậm chí sinh vật học – ta thấy rằng “trong khi không làm suy giảm lý tưởng theo Tin Mừng, vẫn có nhu cầu phải đồng hành trong lòng thương xót và kiên nhẫn đối với những giai đoạn trưởng thành của con người như chúng tiếp tục diễn ra”, dành chỗ cho “lòng thương xót của Chúa, là động lực thúc đẩy chúng ta nỗ lực hết sức mình”.[45] Tôi hiểu những ai thiên về một sự săn sóc mục vụ nghiêm khắc hơn và không có chỗ cho sự thiếu rạch ròi. Nhưng tôi chân thành tin rằng Đức Giêsu muốn một Giáo hội lưu tâm tới những điều tốt lành mà Chúa Thánh Thần gieo vào giữa sự yếu hèn của con người, một Giáo hội như người Mẹ – trong khi nói rõ giáo huấn khách quan của mình – “vẫn luôn luôn làm bất cứ gì tốt lành có thể, cho dù trên con đường ấy, đôi chân mình phải lấm lem bùn đất”.[46] Các mục tử của Giáo hội, trong khi nêu rõ cho người tín hữu lý tưởng trọn vẹn của Tin Mừng và của giáo huấn Giáo hội, cũng phải giúp họ biết cảm thương người yếu đuối, tránh thái độ bức xúc, gay gắt vô lối hay những phán quyết bất nhẫn. Chính Tin Mừng yêu cầu chúng ta đừng xét đoán hay lên án (x. Mt 7,1; Lc 6,37). Đức Giêsu “mong chúng ta chấm dứt việc tìm kiếm những hang hốc ẩn náu cho cá nhân hay tập thể để được che chắn khỏi vùng nước xoáy của những nỗi bất hạnh con người, thay vào đó Người mong ta đi vào trong thực tế của đời sống dân chúng và nhận thức được sức mạnh của sự dịu hiền. Bất cứ khi nào chúng ta làm thế, đời sống của chúng ta sẽ trở nên xáo trộn một cách tuyệt vời”.[47]

309. Thật quí hóa việc những suy tư này diễn ra trong bối cảnh Năm Thánh Lòng Thương Xót, bởi vì cũng trong vô vàn hoàn cảnh đang tác động đến các gia đình, “Giáo hội được trao nhiệm vụ loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa, là trái tim sống động của Tin Mừng, lòng thương xót ấy – bằng cách riêng của nó – phải xuyên thấu vào lòng trí mỗi người. Tân Nương của Đức Kitô phải noi gương cung cách của Con Thiên Chúa, Đấng đi ra đến với mọi người không trừ ai”.[48] Giáo hội biết rằng Đức Giêsu là mục tử của toàn thể một trăm con chiên ấy, không phải chỉ của chín mươi chín con. Người yêu thương tất cả chúng. Từ nhận thức này, ta thấy “dầu thơm của lòng thương xót có thể đạt tới mọi người, những người tin và cả những người ở xa, như một dấu cho thấy rằng Nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta”.[49]

310. Chúng ta không được quên rằng “thương xót không chỉ là việc của Chúa Cha; nó cũng trở thành tiêu chuẩn để nhận biết ai là con cái đích thực của Ngài. Nói tắt, chúng ta được mời gọi thi thố lòng thương xót bởi vì, trước hết, lòng thương xót đã được thi thố cho chúng ta”.[50] Đây không phải là màu mè lãng mạn hay là một kiểu đáp trả nửa vời đối với tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu luôn kiếm tìm điều tốt nhất cho chúng ta, vì kỳ thực “lòng thương xót là chính nền tảng của đời sống Giáo hội. Tất cả hoạt động mục vụ của Giáo hội phải in dấu sự dịu hiền mà Giáo hội diễn tả cho các tín hữu; không có gì trong lời rao giảng và trong chứng tá mà Giáo hội nêu cho thế giới lại có thể thiếu lòng thương xót”.[51] Quả thực là có những lúc “chúng ta hành động như những chủ nhân ông của ơn sủng hơn là như những người hỗ trợ nó. Nhưng Giáo hội không phải là một trạm thu thuế; Giáo hội là nhà của Chúa Cha, nơi có đủ chỗ cho mọi người, với tất cả những vấn đề của họ”.[52]

311. Việc giảng dạy thần học luân lý không được bỏ qua những lưu ý này, vì cho dù quả đúng là cần phải quan tâm đến tính toàn vẹn trong giáo huấn luân lý của Giáo hội, nhưng vẫn luôn phải lưu tâm đặc biệt để nhấn mạnh và thúc đẩy các giá trị cao nhất và cốt yếu nhất của Tin Mừng,[53] nhất là địa vị hàng đầu của đức ái xét như sự đáp trả trước quà tặng tình yêu hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa. Có những lúc chúng ta thấy khó dành chỗ cho tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa trong hoạt động mục vụ của chúng ta.[54] Chúng ta đặt ra quá nhiều điều kiện cho lòng thương xót đến độ làm nó mất sạch ý nghĩa cụ thể và thực sự của nó. Đó là cách tệ hại nhất để làm suy yếu Tin Mừng. Chẳng hạn, quả thực là lòng thương xót không loại trừ công lý và sự thật, nhưng trước hết chúng ta phải nói rằng lòng thương xót là sự tròn đầy của công lý, và là cách thể hiện sáng ngời nhất sự thật của Thiên Chúa. Vì thế, luôn phải xem là “không thỏa đáng bất cứ quan niệm thần học nào rốt cục nghi ngờ sự toàn năng của Thiên Chúa và, nhất là, nghi ngờ lòng thương xót của Ngài”.[55]

312. Điều này cung ứng cho chúng ta một cái khung và bầu khí giúp ta tránh một nền đạo đức lạnh lùng quan liêu khi xử lý những vấn đề đặc biệt nhạy cảm. Thay vào đó, nó đặt ta trong bối cảnh của một sự phân định mục vụ đầy ắp tình yêu và lòng thương xót, nghĩa là ta luôn sẵn sàng để thông cảm, tha thứ, đồng hành, hy vọng, và nhất là để hội nhập. Tâm thế này cần phải lan tràn trong Giáo hội và hướng dẫn chúng ta “mở lòng ra đón nhận những ai đang sống ở những bờ rìa xa nhất của xã hội”.[56] Tôi khích lệ các tín hữu nào thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh phức tạp hãy tin tưởng chia sẻ với các mục tử của mình, hay với những anh chị em giáo dân nhiệt tâm dấn thân cho Chúa. Có thể họ không luôn luôn gặp được một sự xác nhận đối với những ý nghĩ hay mong muốn của mình, nhưng chắc chắn họ sẽ nhận được ánh sáng nào đó giúp họ hiểu hơn hoàn cảnh của mình và khám phá ra một nẻo đường cho mình lớn lên. Tôi cũng khích lệ các mục tử của Giáo hội lắng nghe những người ấy với sự nhạy bén và bình tĩnh, với niềm khao khát chân thành muốn hiểu cảnh ngộ và quan điểm của họ, để giúp họ sống đời mình tốt hơn và nhận ra chỗ dành cho mình trong Giáo hội.

[1] Phúc trình THĐ. 2014, 24.

[2] Ibid., 25.

[3] Ibid., 28.

[4] X. ibid., 41, 43; Phúc trình chung kết 2015, 70.

[5] Ibid., 27.

[6] Ibid., 26.

[7] Ibid., 41.

[8] Ibid.

[9] Phúc trình chung kết 2015, 71.

[10] X. ibid.

[11] Phúc trình THĐ. 2014, 42.

[12] Ibid., 43.

[13] Tông Huấn Familiaris Consortio (22.11.1981) ), 34: AAS 74 (1982), 123.

[14] Ibid., 9: AAS 74 (1982), 90.

[15] X. Bài giáo lý (24.6.2015): L’Osservatore Romano, 25.6.2015, tr. 8.

[16] Bài giảng Thánh Lễ cử hành với các Hồng y mới (15.2.2015): AAS 107 (2015), 257.

[17] Phúc trình chung kết 2015, 51.

[18] Phúc trình THĐ. 2014, 25.

[19] GIOAN PHAOLÔ II, Tông Huấn Familiaris Consortio (22.11.1981), 84: AAS 74 (1982), 186. Trong những trường hợp như thế, nhiều người, biết và chấp nhận khả năng sống “như anh chị em” mà Giáo hội đề nghị, chỉ ra rằng nếu thiếu đi một số sự diễn tả mật thiết, “thì sự trung thành thường bị lâm nguy và thiện ích của con cái bị ảnh hưởng” (VATICAN II, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Hôm Nay Gaudium et Spes, 51).

[20] Ibid.

[21] Phúc trình THĐ. 2014, 26.

[22] Ibid., 45.

[23] BÊNÊĐICTÔ XVI, Diễn từ tại Đại hội Các Gia Đình Thế Giới Lần Thứ Bảy ở Milan (2.6.2012), Câu trả lời số 5: Insegnamenti VIII/1 (2012), 691.

[24] Phúc trình chung kết 2015, 84.

[25] Ibid., 51.

[26] Đây cũng là trường hợp liên quan tới kỷ luật bí tích, vì sự phân định có thể nhận ra rằng trong một hoàn cảnh riêng, không có tồn tại lỗi phạm nặng nề nào. Trong những trường hợp như thế, sẽ áp dụng điều được nói trong một văn kiện khác: x. Evangelii Gaudium (24.11.2013), 44 và 47: AAS 105 (2013), 1038-1040.

[27] Phúc trình chung kết 2015, 85.

[28] Ibid., 86.

[29] GIOAN PHAOLÔ II, Tông Huấn Familiaris Consortio (22.11.1981), 33: AAS 74 (1982), 121.

[30] Phúc trình chung kết 2015, 51.

[31] X. Summa Theologiae I-II, q. 65, art. 3 ad 2; De Malo, q. 2, art. 2.

[32] Ibid., ad 3.

[33] Số 1735.

[34] Ibid., 2352; THÁNH BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên Ngôn về Cái chết êm dịu (5.5.1980), II: AAS 72 (1980), 546; Gioan Phaolô II, khi phê bình về phạm trù “sự chọn lựa nền tảng”, đã nhìn nhận rằng “chắc chắn có thể xảy ra những trường hợp rất phức tạp và mập mờ từ một quan điểm tâm lý học, và những trường hợp ấy có một ảnh hưởng trên mức tội chủ quan của người ta” (Tông Huấn Reconciliatio et Paenitentia [2.12.1984], 17: AAS 77 [1985], 223).

[35] X. HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ CÁC BẢN VĂN LUẬT, Tuyên Bố về việc Đón Nhận Các Tín Hữu Ly Dị Và Tái Hôn Vào Rước Lễ (24.6.2000), 2.

[36] Phúc trình chung kết 2015, 85.

[37] Summa Theologiae, I-II, q. 94, art. 4.

[38] Trong một bản văn khác, qui chiếu đến sự hiểu biết tổng quát về qui tắc và sự hiểu biết đặc biệt của việc phân định thực tế, Thánh Tôma tuyên bố rằng “ước gì có hiện diện một trong hai sự hiểu biết ấy, và sẽ tốt hơn nếu đó là sự hiểu biết về tình trạng cụ thể, bởi nó gần với thực tế”: Sententia libri Ethicorum, VI, 6 (ed. Leonina, t. XLVII, 354.)

[39] Diễn từ Bế mạc Phiên Họp Khoáng Đại Thường Kỳ Thứ Mười Bốn của Thương Hội Đồng Giám Mục(24.10.2015): L’Osservatore Romano, 26-27.10.2015, tr. 13.

[40] ỦY BAN THẦN HỌC QUỐC TẾ, Tìm Kiếm Một Nền Đạo Đức Phổ Quát: Một Cái Nhìn Mới Về Luật Tự Nhiên (2009), 59.

[41] Trong một số trường hợp, điều này có thể bao gồm sự trợ giúp về các bí tích. Vì thế, “tôi muốn nhắc các linh mục rằng tòa giải tội không phải là một buồng tra tấn, nhưng đúng hơn là một cuộc gặp gỡ với lòng thương xót của Chúa” (Tông Huấn Evangelii Gaudium [24.11.2013], 44: AAS 105 [2013], 1038). Tôi cũng muốn chỉ ra rằng Bí tích Thánh Thể không phải là một phần thuởng cho người hoàn hảo, nhưng là phương dược đầy hiệu năng và là dưỡng chất cho người yếu đuối” (ibid., 47: 1039).

[42] Tông Huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 44: AAS 105 (2013), 1038-1039.

[43] De Catechizandis Rudibus, I, 14, 22: PL 40, 327; x. Tông Huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 194: AAS 105 (2013), 1101.

[44] Phúc trình THĐ. 2014, 26.

[45] Tông Huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 44: AAS 105 (2013), 1038.

[46] Ibid., 45.

[47] Ibid., 270.

[48] Tông Sắc Misericordiae Vultus (11.4.2015), 12: AAS 107 (2015): 407.

[49] Ibid., 5: 402.

[50] Ibid., 9: 405.

[51] Ibid., 10: 406.

[52] Tông Huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 47: AAS 105 (2013), 1040.

[53] X. ibid., 36-37: AAS 105 (2013), 1035.

[54] Có lẽ do một sự ngần ngại nào đó, được che đậy bởi nhiệt tâm trung thành với sự thật, một số linh mục đòi hỏi các hối nhân một quyết tâm sửa chữa rất thiếu tế nhị, đến nỗi làm cho lòng thương xót bị che mờ bởi sự theo đuổi một công lý được coi là thuần túy. Vì thế, sẽ hữu ích việc nhắc lại giáo huấn của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, khi ngài tuyên bố rằng khả năng của một sự sa ngã mới “không nên làm người ta nghi ngờ sự chân thực của lòng quyết tâm” (Thư gửi Hồng y William W. Baum dịp tổ chức Khóa về Tòa Trong[22.3.1996], 5: Insegnamenti XIX/1 [1996], 589).

[55] ỦY BAN THẦN HỌC QUỐC TẾ, Hy Vọng Ơn Cứu Độ Cho Những Trẻ Em Chết Mà Chưa Lãnh Phép Rửa(19.4.2007), 2.

[56] Tông Sắc Misericordiae Vultus (11.4.2015), 15: AAS 107 (2015), 409.

Tông huấn Niềm vui Yêu Thương, Chương VIII, trích từ bản dịch của lm. Lê Công Đức



nghe - xem

Ý chỉ cầu nguyện tháng 8 của Đức Thánh Cha Phanxicô

Nhờ thể thao, chúng ta có thể kiến tạo một nền văn hóa gặp gỡ giữa mọi người để có được một thế giới hòa bình.

Tôi thích mơ ước thể thao như một sự thực hành phẩm giá con người, được biến đổi nhờ tình huynh đệ.

Chúng ta có muốn cùng nhau tập luyện với ý nguyện này hay không? Ước gì thể thao thăng tiến cuộc gặp gỡ huynh đệ giữa các dân tộc và đóng góp cho nền hòa bình trên thế giới.  (Vatican tiếng Việt)

 
tư liệu








liên kết website